HỒ CHÍ MINH HUYỀN THOẠI VÀ MẶT NẠ

HỒ CHÍ MINH HUYỀN THOẠI VÀ MẶT NẠ

http://giahoithutrang.blogspot.com/2012/06/ho-chi-minh.html

Monday, 23 September 2013

MỤC LỤC PHÂN TÍCH NHÂN VĂN GIAI PHẨM

 


PHẦN I. MỘT SỐ SÁCH & TẠP CHÍ TIÊU BIỂU
NHÂN VĂN 3 * PHẦN I, .2
NHÂN VĂN3 PHẦN II,5.
NHÂN VĂN SỐ 4- PHẦNI. 275.
NHÂN VĂN SỐ 4 * PHẦN II,274. .
NHÂN VĂN SỐ 5.  236
SÁCH TẾT 1957 * TẬPI .8
SÁCH TẾT 1957 * PHẦN II..9
THẢO LUẬN VỀ THƠ VIỆT BẮC I
300. .THẲO LUẬN VỀ THƠ VIỆT BẮC * II
PHẦN II. CÁC TÁC PHẨM CỦA NVGP

BÙI QUANG ĐOÀI.276
CAO NHI. 270.
CHU NGỌC. 268
TÁC PHẨM ĐÀO DUY ANH.254
ĐẶNG ĐÌNH HƯNG.199
HOÀNG CẦM.202
HOÀNG HUẾ. 259
HOÀNG TÍCH LINH.262
HỒNG LỰC 258
HUY PHƯƠNG 272
HỮU LOAN 193
LÊ ĐẠT 201
LÊ ĐẠI THANH 257
MINH HOÀNG 279
NGUYỄN BÍNH 273
NGUYỄN KHĂC DỰC 269
NGUYỄN HỮU ĐANG 196
NGUYỄN SÁNG 252
NGUYỄN TUÂN 280
NGUYỄN MẠNH TƯỜNG 191
NHÂN VĂN GIAI PHẨM 266
NHƯ MAI 281
PHAN KHÔI195
PHAN VŨ 260
PHÙNG CUNG 194
PHÙNG QUÁN 203
QUANG DŨNG 200
SỸ NGỌC 251
TẠ HỮU THIỆN 278
TỬ PHÁC 263
THANH CHÂU 282
THỤY AN 198
TRẦN CÔNG 256
TRẦN DẦN 192
TRẦN Y DU261
TRẦN DUY 255
TRẦN PHƯƠNG 267
TRẨN ĐỨC THẢO 190
TRẦN THỊNH 271
TRÚC LÂM 264
TRƯƠNG TỮU 253
VĂN CAO 250
Y DU 265
YẾN LAN  56


PHẦN III. WIKIPEDIA VÀ CÁC TỰ ĐIỂN KHÁC

ĐÀO DUY ANH 214
ĐẶNG ĐÌNH HƯNG 211
HOÀNG CẦM 249
HOÀNG CẦM 248
HỮU LOAN 216
HỮU LOAN 215
LÊ ĐẠT 224
NGUYỄN BÍNH 213
NGUYỄN HỮU ĐANG 295
NGUYỄN TUÂN 283
NGUYỄN VĂN TÝ 209
NGUYỄN MẠNH TƯỜNG 217
NHÂN VĂN AFFAIR 218
NHÂN VÂN GIAI PHẨM 234
WIKIVIETLIT * NVGP 234
PHAN KHÔI 220
PHÙNG CUNG 219
PHÙNG QUÁN 223
QUANG DŨNG 222
THỤY AN 232
TRẦN DẦN 233
TRẦN DẦN 231
TRẦN ĐỨC THẢO 206
TRƯƠNG TỬU 221
VĂN CAO 212
VĂN CAO 208
YẾN LAN 207


PHẦN IV. VU KHỐNG VÀ KẾT TỘI NVGP

BÙI HUY PHỒN * TRƯƠNG TỬU PHẢN CÁCH MẠNG38
BỬU TIẾN * CHỐNG NVGP 17
CHU THIÊN * GIAI PHẨM MÙA THU I 66
ĐÀO VŨ * PHAN KHÔI VÔ LẠI 35
ĐOÀN VĂN CỪ * CHỐNG NVGP.20
ĐOÀN GIỎI * CHỐNG NVGP 29
ĐỖ NHUẬN * TRẦN DẦN PHÁ HOẠI 32
HẰNG PHƯƠNG * CHỐNG NVGP 15
HOÀI THANH * THỰC CHẤT TRƯƠNG TỬU 12
HOÀI THANH * SAI LẦM KHI PHÊ BÌNH NHẤT ĐỊNH THẮNG 54
HOÀI THANH * TRẦN DẦN 22
HOÀNG XUÂN NHỊ * VĂN HỌC CÓ TÍNH ĐẢNG 46
HỒNG CHƯƠNG * CHỐNG NVGP 24
HỒNG QUANG * PHAN KHÔI CHỐNG ĐẢNG 36
HỒNG VÂN * NGUYÊN HỮU ĐANG PHẢN CÁCH MẠNG 67
HỒNG VÂN * TƠ RỐT KIT? 41
HỒNG VÂN * VỀ NHÓM PƠ RÔ LÊ MUN 72
HUY VĂN * TRẦN DẦN ĐỒI TRỤY 23
HUYỀN KIÊU * TRẦN DẦN BẤT LƯƠNG 33
HỮU MAI * CHÂN TƯỚNG TRẦN DẦN 25
KIM LÂN* CHỐNG NVGP 19
KHẮC THÀNH * NỌC ĐỘC TRẦN ĐỨC THẢO 73
LÊ VĂN HẢI * SÙNG BÁI CÁ NHÂN 69
LÊ QUANG * ĐỌC NHÂN VĂN SỐ 1 60
LÊ TRUNG THỰC * TRƯƠNG TỬU VIẾT VỀ SÙNG BÁI CÁ NHÂN 70
 LỤC ĐỊNH NHẤT* TRĂM HOA ĐUA NỞ.51
LƯƠNG XUÂN NHỊ* CHỐNG NVGP 20
LƯƠNG NGỌC TRÁC * TỬ PHÁC CHỐNG ĐẢNG 28
NGÔ MINH * LỜI MẸ DẶN 37
NGÔ THẾ THỊNH * TRƯƠNG TỬU 18
NGUYỄN ĐỔNG CHI* PHAN KHÔI PHẢN ĐỘNG 49
NGUYỄN CÔNG HOAN* PHAN KHÔI.34
NGUYỄN KHẢI * ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG 26
NGUYỄN TUÂN * CHỐNG NVGP 21
NGUYỄN TUÂN * GIẢI VĂN HỌC 54-55   57
NGUYỄN HUY TƯỞNG* CHỐNG NVGP  19
NGUYỄN ĐÌNH THI * CHỐNG XÉT LẠI 14
NGUYỄN ĐÌNH THI * SAI LẦM TRONG GIAI PHẨM 55
NGUYỄN ĐÌNH THI * LÃNH ĐẠO VĂN NGHỆ58
NGUYỄN KHẮC VIỆN * NVGP 39
NVGP THÚ NHẬN * PHÙNG QUÁN 50
NVGP THÚ NHẬN * HOÀNG CẦM  48
NVGP THÚ NHẬN 43
PHAN CỰ ĐỆ * TRƯƠNG TỬU 45
TÔ HOÀI * THƠ NVGP 76
TỐ HỮU * ĐẤU TRANH VĂN NGHỆ 13
TỐ HỮU * CHỐNG NVGP 77
TỐ HỮU * NVGP PHẢN ĐỘNG 11
TÚ MỠ VÀ CÁC NGHỆ SĨ .44
TỪ BÍCH HẰNG *NVGP PHÁ HOẠI 27
TRẦN VĂN CĂN* CHỐNG NVGP 16
TRỊNH XUÂN CHÂU * XỬ ÁN NVGP.47
VŨ ĐỨC PHÚC * TRẦN DUY 40
VŨ HUY TÂM * NỌC ĐỘC NHÂN VĂN 75
XUÂN DIỆU * TƯ SẢN LÊ ĐẠT 31
.XUÂN DIỆU * TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT VĂN CAO46
XUÂN HOÀNG * LÊ ĐẠT CHỐNG ĐẢNG 30
XUÂN THÊM * VỀ LÃNH ĐẠO VĂN NGHỆ 10


CỘNG SẢN* TẬP THỂ & VÔ DANH

THÔNG CÁO CỦA HỘI VĂN NGHỆ VN59
VĂN NGHỆ SĨ BỊ ÉP CHỐNG NVGP 48
BỌN NVGP TRƯỚC TOÀ ÁN DƯ LUẬN 65
VỀ NGUYỄN HỮU ĐANG VÀ TRĂM HOA ĐUA NỞ 74
TRẢ LỜI NGUYỄN HỮU ĐANG.53
PHIÊN TÒA XỬ NVGP284
PHIÊN TÒA XỬ NVGP 285
PHIÊN TÒA XỬ NVGP 286


PHẦN V. NGHIÊN CỨU VỀ NVGP

1. VỀ NHÂN VĂN GIAI PHẨM

ĐẶNG TIẾN * NVGP 240
HOÀNG VĂN CHÍ * TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC 120
HOÀNG VĂN CHÍ (MẠC ĐÌNH) * NVGP 115
HOÀNG VĂN CHÍ * HỒ SƠ NVGP 277
HOÀNG TIẾN * TỐ HỮU VÀ NVGP 137
HOÀNG TIẾN * NHÌN LẠI NVGP 128
HUY ĐỨC & MỸ LỆ*NVGP & TRÍ THỨC 136
 LẠI NGUYÊN ÂN* TÒA XỬ NVGP..284
LẠI NGUYÊN ÂN -TÒA XỬ NVGP 285
LAI NGUYÊN ÂN -TÒA XỬ NVGP .286
LÊ NGUYÊN HỒNG * NVGP126
LÊ HOÀI NGUYÊN -NVGP 296
NGUYỄN MINH CẦN * THẢM KỊCH NVGP 131
NGUYỄN MINH CẦN * NVGP 239
NGUYỄN HƯNG QUỐC- NVGP 85
NGUYỄN THIỆN THỤ * NGUYỄN VĂN TRẤN VIẾT VỀ NVGP 135
NGUYỄN THIÊN THU * NHÂN VĂN GIAI PHẨM 133
PHẠM VĂN THANH * TINH THẦN NVGP.118
PHỎNG VẤN TRẦN TRỌNG VĂN VÊ GIẢI THƯỞNG 125
PHỎNG VẤN HOÀNG CẦM VỀ GIẢI THƯỞNG 124
RFA * KHỦNG BỐ NVGP 122
RFA * SẮC LỆNH DIỆT NVGP 121
RFA * HỒ SƠ NVGP 134
RFA * PHỎNG VẤN NGUYỄN MINH CẦN VỀ NVGP 114
THỤY KHUÊ * CUỘC SỐNG VĂN NGHỆ SĨ NVGP 132
THỤY KHUÊ * PHỎNG VẤN NVGP 130
THỤY KHUÊ * CÁC BÀI VIẾT VỀ NVGP 119
THỤY KHUÊ * NVGP 119
THỤY KHUÊ *NỘI BỘ NVGP297

THỤY KHUÊ*GIAI PHẨM MÙA XUÂN 296

THỤY KHUÊ* NGUYÊN NHÂN 295
THỤY KHUÊ* TÌM HIỂU NVGP 294

 THUỴ KHUÊ *THANH TRỪNG NVGP .191
THỤY KHUÊ. TRÍ THỨC & DÂN CHỦ 1.292
THỤY KHUÊ * TRÍ THỨC & DÂN CHỦ 2.  293
 VÔ DANH *VGP & GIẢI THƯỞNG 116
VÔ DANH * NVGP 127
VÔ DANH * NHÂN VĂN GIAI PHẨM . 237

2.VỀ HOÀNG CẦM

ĐẶNG TIẾN * THƠ HOÀNG CẦM 241
ĐỖ LAI THÚY- THƠ HOÀNG CẦM. 123
 HOÀNG HƯNG -HOÀNG CẦM.266
LÝ NGUYÊN ANH * THƠ HOÀNG CẦM 245
NGUYỄN TRỌNG TẠO * THƠ HOÀNG CẦM 244
PHỎNG VẤN HOÀNG CẦM VỀ GIẢI THƯỞNG 124
PHỎNG VẤN VỀ THƠ HOÀNG CẦM 247
VIỆT CHIẾN.* HOÀNG CẦM 243
VÔ DANH * HOÀNG CẦM. 246

3. VỀ HỮU LOAN


HẰ ĐÌNH CẨN * HỮU LOAN BÂY GIƠ 147
NGUYỄN ANH TUẤN * HỮU LOAN (TÁC QUYỀN MTHS) 143
PHẠM TRẦN * PHỎNG VẤN HỮU LOAN 144
THY NGA * PHỎNG VẤN HỮU LOAN 140
TRỊNH HỰNG * HỮU LOAN THƠ BẤT TỬ 138
VÔ DANH * HỮU LOAN, A SAD COMPARISON 142
VÔ DANH * HỮU LOAN BLOOD PARADISE 141
VÔ DANH * TIỂU SỬ HỮU LOAN 139
VÔ DANH * HỮU LOAN VÀ BẢN QUYỀN MTHS148
VÔ DANH * HUU LOAN VÀ TÌNH MTHS 146
VÔ DANH * HỮU LOAN & BÍ MẬT MÀU TÍM HOA SIM 145


4. VỀ LÊ ĐẠT

ĐẶNG TIẾN * LÊ ĐẠT, BÓNG CHỮ 110
HẠNH ĐỖ *LÊ ĐẠT NÓI VỀ DỤC TÍNH 109
HOÀNG CẦM * VĨNH BIỆT LÊ ĐẠT 112
PHẠM XUÂN NGUYÊN * LÊ ĐẠT 108
PHẠM XUÂN NGUYÊN * NỤ CƯỜI LÊ ĐẠT 113
THỤY KHUÊ * THƠ LÊ ĐAT 111
THỤY KHUÊ* LÊ ĐẠT, 288



5. VỀ NGUYỄN BÍNH


BẢO VÂN * NGUYỄN BÍNH 228
LẠI NGUYÊN ÂN * NGUYỄN BÍNH 229
NGUYỄN BÍNH & HỘI CẦN TỰ PHÊ BÌNH 273
NGUYỄN BÍNH HỒNG CẦU * NGUYỄN BÍNH 226
NGUYỄN KHOA ĐĂNG * NGUYỄN BÍNH 230
NGUYỄN ƯỚC * NGUYỄN BÍNH 227


6.VỀ NGUYỄN HỮU ĐANG

DƯƠNG TRUNG QUỐC * NGUYỄN HỮU ĐANG MỐI TÌNH 100
ĐẶNG TIẾN * VAI TRÒ NGUYỄN HỮU ĐANG TRONG NHGP 97
ĐẶNG TIẾN * NGUYỄN HỮU ĐANG & NVGP 94
HOÀNG CẦM * NGUYỄN HỮU ĐANG 106
PHẠM XUÂN NGUYÊN * NGUYỄN HỮU ĐANG ĐÃ MẤT 103
PHÙNG QUÁN * NGUYỄN HỮU ĐANG DỰNG ĐÀI 96
PHÙNG QUÁN * NGUYỄN HỮU ĐANG 102
NGUYỄN THIÊN THỤ * NGUYỄN HỮU ĐANG 107
PHỎNG VẤN * VĨNH BIỆT NGUYỄN HỮU ĐANG 105
TƯỞNG NĂNG TIẾN * NGUYỄN HỮU ĐANG 101
THỤY KHUÊ * PHỎNG VẤN NGUYỄN HỮU ĐANG VỀ NVGP 99
THỤY KHUÊ * NGUYỄN HỮU ĐANG, ÔNG LÀ AI 98
THỤY KHUÊ*NGUYỄN HỮU ĐANG, 287

TRẦN NHUẬN MINH * KỶ NIỆM NGUYỄN HỮU ĐANG 95
TRẦN THỊ TRƯỜNG * VĨNH BIỆT NGUYỄN HỮU ĐANG 93
VÔ DANH * NGUYỄN HỮU ĐANG TẠ THẾ 104


7. VỀ NGUYỄN MẠNH TƯỜNG

DƯƠNG TRUNG QUỐC * NGUYỄN MẠNH TƯỜNG 163
MẠC ĐÌNH * NGUYỄN MẠNH TƯỜNG 165
MINH VÕ * NGUYỄN MẠNH TƯỜNG ,VẠ TUYỆT THÔNG 159
NHÂN VĂN PHỎNG VẤN LS. NGUYỄN MẠNH TƯỜNG 160
NGUYỄN THIÊN THỤ * NGUYỄN MẠNH TƯỜNG 161
TƯỞNG NĂNG TIẾN * NGUYỄN MẠNH TƯỜNG 168
TRẦN DUY HIẾN * NGUYỄN MẠNH TƯỜNG 167
VÔ DANH * NGUYỄN MẠNH TƯỜNG HAI BẰNG TIẾN SĨ 166
VÔ DANH * TIỂU SỬ LS. NGUYỄN MẠNH TƯỜNG 164
VÔ DANH * NGUYỄN MẠNH TƯỜNG * VẠ TUYỆT THÔNG 162


8. VỀ PHAN KHÔI

LẠI NGUYÊN ÂN * PHAN KHÔI 1929 173
NGUYỄN QUÝ ĐẠI * PHAN KHÔI TÌNH GIÀ 172
PHẠM XUÂN THẠCH * HÀNH TRẠNG PHAN KHÔI 169
TRẦN DUY * TƯỞNG NIỆM PHAN KHÔI 175
RFA * PHAN KHÔI & THƠ MỚI 174
XỨ QUẢNG * TIỂU SỬ PHAN KHÔI 171
PHAN KHÔI 1929 170



9. VỀ PHÙNG CUNG

CÔNG TỬ HA ĐÔNG * PHÙNG CUNG 184
LAN HƯƠNG PHỎNG VẤN NGUYỄN MINH CẦN VỀ PHÙNG CUNG 181
LÊ MINH HÀ * PHÙNG CUNG, ĐỜI NGƯỜI ĐỜI CHỮ 186
NAM DAO * THƠ VÀ NGƯỜI PHÙNG CUNG 182
NGÔ MINH * PHÙNG CUNG, MỘT ĐỜI THƠ 180
NGÔ MINH * PHÙNG CUNG TRONG TÔI 179
NGUYỄN MINH CẦN * NHỮNG HẠT NGỌC PHÙNG CUNG 183
NGUYỄN MINH CẦN * ĐỌC DẠ KÝ CỦA PHÙNG CUNG 189
THỤY KHUÊ * PHÙNG CUNG 188
NGUYỄN THIÊN THỤ * PHÙNG CUNG 185
PHÙNG HÀ PHỦ * PHÙNG CUNG 187
PHÙNG QUÁN * HẰNG NGA THỨC DẬY 178
CÂY CAU CỦA PHÙNG CUNG 177



10. VỀ PHÙNG QUÁN

FRA * PHÙNG QUÁN 89
MINH TÂM * PHÙNG QUÁN 85
NGÔ MINH * VỀ PHÙNG QUÁN BA PHÚT SỰ THẬT 86
NGÔ MINH * PHÙNG QUÁN1 84
NGÔ MINH * PHÙNG QUÁN2 83
NGUYỄN THIÊN THỤ * PHÙNG QUÁN 88
TRẦN MINH * NVGP KHÓC PHÙNG QUÁN 87


11. VỀ TRẦN DẦN

NAM DAO * ( XỔ BỤI ) TRẦN DẦN &NVGP 93
NGUYỄN HUỆ CHI & TẬP THỂ *CẤM THƠ TRẦN DẦN 90
THỤY KHUÊ.TRẦN DẦN,289

VÔ DANH * TÀI LIỆU VỀ TRẦN DẦN 92
VÔ DANH * TÀI LIỆU VỀ TRẦN DẦN * DẠ ĐÀI 91


12. VỀ TRẦN ĐỨC THẢO

ĐẶNG PHÙNG QUÂN * TRẦN ĐỨC THẢO 149
MẠC ĐÌNH * TRẦN ĐỨC THẢO 155
MICHEL KAIL * TRẦN ĐỨC THẢO 151
NGUYỄN BÂN * TRẦN ĐỨC THẢO 153
NGUYỄN ĐÌNH THI * TRẦN ĐỨC THẢO ,LỮ HÀNH 150
NGUYỄN THIÊN THỤ * TRẦN ĐỨC THẢO 158
N.H.V * GỬI TRIẾT GIA DUY VẬT 156
PHÙNG QUÁN * HÀNH TRÌNH TRẦN ĐỨC THẢO 157
TRẦN ĐẠO * TRẦN ĐỨC THẢO 154
TRẦN ĐỨC THẢO* TRẦN ĐỨC THẢO NIÊN BIỂU 152



13. TRƯƠNG TỬU

THỤY KHUÊ * TRƯƠNG TỬU DUY VẬT 79
THỤY KHUÊ *THÂN THẾ TRƯƠNG TỬU 78


14. VĂN CAO
RFA * VĂN CAO 81
VÔ DANH * VĂN CAO 80
VÔ DANH * VĂN CAO 82

15. THỤY AN

THỤY KHUÊ* THỤY AN, 290



PHẦN VI. 
 LINH TINH 

HEINZ SCHUTTE .294 
HOÀNG SƠN TIÊN-TỐ HỮU .81
INDEPENDENCE . 297
NGUYỄN ĐẮC XUÂN * TỐ HỮU. 83
RAIN ONLY FALLING 298
SHAWN MC HALE. 295  


PHẦN VII
CÁC TÁC PHẨM ĐỀ CẬP ĐẾN GPNV

Hoàng Văn Chí: Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc.
Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hoá xuất bản. Saigon 1959. Quê Mẹ tái xuất bản, Paris, 1983
XEM TẠI TỦ SÁCH TALAWS.http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9495&rb=08

Lại Nguyên Ân. Tư liệu thảo luận 1955 về tập thơ Việt Bắc.
nhà xuất bản Văn hóa Thông tin. Năm xuất bản: 2005 Khổ: 13x19 cm

NGUYỄN THIÊN THỤ* VĂN HỌC HIỆN ĐẠI, 4vols, Gia Hội, Canada, 2006
NGUYỄN VĂN TRẤN * VIẾT CHO MẸ VÀ QUỐC HỘI.Sàigon, 1995. 544tr. E Book THƯ VIỆN TIẾU LÙN
http://tieulun.hopto.org:25000/

NHẬT HOA KHANH
GẶP TỐ HỮU * 1
GẶP TỐ HỮU * 2
GẶP TỐ HỮU * 3
GẶP TỐ HỮU* 4
GẶP TỐ HỮU * 5

Tô Hoài, Cát bụi chân ai, tr. 117, nxb Hội Nhà văn, 1992, Hà Nội. E Book tại Việt Nam Thư Quán.http://vnthuquan.net/
TRẦN THƯ. CHUYỆN NGƯỜI TÙ XỬ LÝ NỘI BỘ. http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3038 hoặc http://music.vietfun.com/trview.php?ID=6272&cat=15
Trường Chinh, báo cáo trước Mặt trận Tổ quốc ngày 13-3-1958
VŨ THƯ HIÊN. Đêm giữa ban ngày Văn nghệ .Ca xuất bản ,1997 . Xem E book taị Đặc Trưng hoặc VN Thư Quán.
Thuỵ Khuê. Nhân Văn Giai Phẩm và Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc. Tiếng Quê Hương
VA. 2012


NHÂN VĂN GIAI PHẨM * CÁC SỐ BÁO

NHÂN VĂN GIAI PHẨM *

NHÂN VĂN GIAI PHẨM,




NHÂN VĂN GIAI PHẨM

NGUYỄN THIÊN -THỤ
 sưu tập

NHÂN VĂN 

GIAI PHẨM
TOÀN TẬP


GIA HỘI©2009
Tái bản 2013

NHÂN VĂN GIAI PHẨM



NVGP * 1. NHÂN VĂN SỐ 2 * PHẦN II

1. NHÂN VĂN SỐ 2 * PHẦN II
Báo Nhân văn số 2 (phần thứ hai)

* Ngược dòng lịch sử

* Cùng chủ đề:
* 1
* 2
* 3
* 4
* 5
* 6
* 7
* 8
* 9
* 10
* 11
* 12
* 13
* 14
* 15
* 16
* 17
* 18
* 19
* 20
* 21
* 22
* 23

Phan Vũ
Xem phim Anh gắng nuôi con [1]

Nền điện ảnh Nhật từ trước đến nay vẫn được thế giới chú ý.

Những phim Rashomon, Những đứa trẻ Hiroshima đã làm sôi nổi dư luận thế giới về ý nghĩa sâu sắc của nội dung cũng như về nghệ thuật trình độ rất cao. Đạt được những thành công đó là do điện ảnh Nhật đã chuyển vào con đường tân hiện thực chủ nghĩa; Tân hiện thực của Nhật lại dung hoà với chủ nghĩa tượng trưng của Á Đông nên mang một sắc thái đặc biệt. Tân hiện thực của Nhật khác với tân hiện thực của Ý.

Phim Anh gắng nuôi con chưa phải là phim xuất sắc của Nhật, có thể đại diện cho chủ nghĩa Tân hiện thực của Nhật nhưng cũng là một cuốn phim viết và dựng theo thể thức của Tân hiện thực Nhật.

Những cảnh cờ bạc, rượu chè đĩ bợm, gian xảo, giành giật là một thực tế của cuộc sống trong hoàn cảnh của một nước Nhật trước và nay. Mễ Lang, một nạn nhân bị lôi cuốn vào cuộc sống ấy đi vào sa ngã vật chất tinh thần. Sự sa ngã ấy đã đem lại một kết quả khốc hại: cái chết của người vợ. Từ đấy Mễ Lang muốn thoát ra khỏi cảnh tối tăm của xã hội ấy, xây dựng cho đứa con một tương lai.

Lúc vợ chết có dặn: Anh gắng nuôi con! Đừng đánh nhau nữa! Mễ Lang không muốn cho con đi vào con đường đánh nhau, con đường buôn ngựa, nhưng có lúc Mễ Lang dạy con phải đánh lại những kẻ áp bức – trong hoàn cảnh xã hội như thế phải đánh để tự vệ.

Tâm lý của Mễ Lang, một tâm lý giày vò, xâu xé vì cuộc đời đang sống quá nghiệt ngã, đầy mâu thuẫn hối hận cuộc sống đã qua, một tâm lý cuồng nhiệt đến tột độ vì muốn thực hiện mục đích của mình. Tâm lý ấy nhiều khi vượt qua cả nhân tính, đến chỗ sống sượng, siêu thực nhưng về căn bản đã nói lên được khát vọng mãnh liệt đòi một cuộc sống tốt đẹp.

Chung quanh Mễ Lang là những lớp người nghèo cùng một mối tình, một ước vọng với Mễ Lang.

Ngoài lớp người nghèo khổ ấy nhưng đầy thiện chí kia lại có một số kẻ bịp bợm bóc lột mồ hôi nước mắt của người khác. Lại có tiền mở trường dạy học, khoác áo nhà giáo dục (Ý nghĩa châm biếm của cuốn phim).

Xã hội gian xảo, tối tăm ấy tạo nên những tâm lý bị giày vò, đau xót và đột khởi thất thường như Mễ Lang.

Nhận xét về phim Anh gắng nuôi con, ta cần phải đóng khung trong hoàn cảnh xã hội bây giờ, một xã hội Nhật bị Mỹ chiếm đóng. Phim Anh gắng nuôi con đã ra đời trong hoàn cảnh ấy. Vì thế câu chuyện của anh chàng buôn ngựa chẳng phải chỉ đơn thuần là câu chuyện đời tư của anh ta.

Mễ Lang, lúc rượu chè, dốc túi đánh nước bạc liều là một giai đoạn tối tăm của nước Nhật cũ. Giai đoạn ấy đã đưa đến một đám tang. Sau đám tang là sự khát vọng mãnh liệt xây dựng cuộc sống cho một đứa con, một thế hệ tương lai chính là xây dựng một nước Nhật mới (không theo con đường “buôn ngựa” cũ). Liễu Lang (tên cờ bạc bịp)… [2] những kẻ đang khoác những bộ áo đạo đức và chính trị màu mè mua chuộc, lừa gạt nhân dân. Tuyết tượng trưng cho lớp người nhẹ dạ, cả tin, yêu tha thiết nước Nhật nhưng rất dễ lầm đường.

Tất cả thực trạng của một xã hội, tất cả khát vọng của một dân tộc thu vào một tấn kịch gia đình. Trong con người Mễ Lang cũng như trong cảnh giải quyết câu chuyện vì tình vì lý nhiều chỗ giả tạo, trừu tượng nhưng xem phim ấy phải đóng khung trong hoàn cảnh Nhật, tâm lý Nhật. Không nên đem những đòi hỏi của miền Bắc Việt Nam mà gắn vào cho một nước Nhật bị chiếm đóng. Làm nghề viết kịch bản, chúng tôi tìm thấy trong phim Anh gắng nuôi con một phương pháp thể hiện chủ đề, thể hiện tình cảm bằng cuộc sống, bằng con người, bằng chủ nghĩa Tân hiện thực. Những phim như thế rất cần cho chúng tôi trong công tác sáng tác hơn nhưng tác phẩm điện ảnh chỉ có một cái khung cứng nhắc bên trong xếp đặt theo một lề lối cố định những tâm hồn công thức, những nét sống công thức.

Viết bài này tôi muốn đưa một số quan điểm của mình bàn với bạn đọc, nhưng ngoài ra tôi còn muốn nói thêm với báo Nhân dân mấy điểm:

Tôi muốn coi báo Nhân dân là một tờ báo lớn, có một nhiệm vụ hướng dẫn dư luận quần chúng. Những bài đăng trên báo Nhân dân dù là thư bạn đọc đi nữa – báo Nhân dân cũng phải chịu tránh nhiệm, vì đăng như thế báo Nhân dân đã bày tỏ thái độ.

Hai bức thư đang trên báo Nhân dân phê bình phim Anh gắng nuôi con như thế nào?

Một cái thì bảo ông chủ rạp là lợi dụng tình cảm của quần chúng với chiêu bài: “chống viện trợ Mỹ”. Tôi không đồng ý với ông chủ rạp về việc này, vì theo tôi, chính là ông chủ rạp đã sợ các bạn phê bình kiểu lập trường máy móc, chính trị, công thức nên đã phải làm cái chiêu bài rất là tồi kia cho hợp thời! Tôi chắc rằng bạn ấy trong khi viết bài phê bình cuốn phim thậm tệ như thế không khinh ông chủ rạp bằng khinh quần chúng đâu. Phim Anh gắng nuôi con chiếu hơn một tuần lễ, quần chúng hâm mộ như thế, tôi tin chắc quần chúng không bị lợi dụng bởi mấy chữ “chống viện trợ Mỹ” mà chính trong phim có thực chất nghệ thuật. Quần chúng của ta bây giờ đã tinh lắm, không đơn giản quá như bạn viết. Không tin bạn cứ đem một phim tồi mà quảng cáo: “Hôm nay có bắn vỡ đầu Mỹ!” quần chúng cũng chả chen nhau mua vé đâu.

Một cái thư khác đăng báo Nhân dân lại có ý kiến đừng cho chiếu phim ấy lần thứ hai. Đấy là một sự độc đoán và cũng vẫn là khinh quần chúng vì không lẽ bao nhiêu người đi xem một cái phim “phát xít” đầu độc như thế mà không có lý nào lại không đứng dậy la ó ngay trong rạp, mà phải chờ đợi đến sự phân tích của bạn?

Tôi không hiểu tại sao Ban biên tập Báo Nhân dân lại có thể cho đăng những loại bài hẹp hòi như thế bên cạnh những bài của các Chu Dương, Lục Định Nhất cổ vũ những quan điểm rộng rãi về văn nghệ "trăm hoa đua nở”?


*


Trần Y Du
Địa ngục miền Nam [3]

1. Mùa tựu trường đã đến. Ở miền Nam cũng có mùa tựu trường, nhưng đa số học sinh không có trường đề tề tựu.

Một tờ báo Sài Gòn than: Trên 80% học trò bậc tiểu học bị loại trước ngưỡng cửa trung học – và một số đông các em từ 7 đến 14 tuổi chỉ lo giúp đỡ cha mẹ trong các việc lặt vặt, hoặc đi chơi giỡn ngoài đường không biết làm gì cả, hầu hết đều không biết…!

Một tờ báo khác viết: Có trường để học! Có lớp để học! Nửa vạn học sinh nghèo Cần Thơ đang mong đợi! Đó là tiếng kêu tha thiết của đa số thiếu niên, đó là nhu cầu cấp bách không thua các thứ nhu cầu khác của cơ thể.

Diệm nghe những tiếng kêu ấy chắc nghĩ bụng: “Quái! Thế xây thêm nhà tù, và các trại giam tập trung không phải là nhu cầu cấp bách à?”


2. Lại nói đến chuyện thanh niên học sinh. Một cô giáo phải kêu: Vào lớp giảng bài, chúng có thèm nghe đâu, cứ lén lút đọc những thơ tình.

Ở những góc phố người ta hiếp một em bé lên chín… em bé chết, giết người giữa ban ngày, cướp ô tô, bắn súng lục v.v…

Báo Lẽ sống viết: “Ảnh hưởng tai hại của những loại sách ba xu ca tụng những ái tình lãng mạn của phim ảnh khiêu dâm, loã thể khoái lạc những cái hôn nồng cháy trên màn ảnh, khiến các học sinh bắt chước rập khuôn trên màn ảnh những cao bồi, đã tạo nên nạn cao bồi lô-can ngoài phố quấy rối xóm giềng…”

Diệm trông thấy và hốt hoảng kêu: Đó, tàn tích thực dân phong kiến thối nát sau tám mươi năm đô hộ…

Đế quốc? Phong kiến? Đồng ý – Nhưng Diệm chỉ còn quên có Diệm thôi!


3. Ông Nguyễn Xuân Hách ở xóm Bình Địa (Phú Nhuận) mới 9 giờ tối, hai tên lạ mặt xông vào nhà bắn ông ngã gục, “viên đạn trúng vào vai ông Hách trổ ra ngoài ghim vào vách. Sau khi thi hành thủ đoạn, hai hung thủ tẩu thoát trong bóng tối”.

Các báo đăng chữ lớn: Án mạng rùng rợn! Một thiếu phụ bị thọc cây vào họng chết thê thảm!

Bà Hoàng Thị Khoá chủ đại lý Rượu Nam Hương giữa đêm bị kẻ lạ mặt đâm trúng ngực!

Một ngôi nhà số 33 đường Nguyễn Huệ, cạnh đội võ trang tuyên truyền của Diệm đã bị cướp kéo vào nhà đâm chết hai người và hai người bị thương!

Cướp đeo mặt nạ, có bọn trang bị bằng tiểu liên chặn cả một chuyến xe đi cướp của hành khách.

Nhà 509 Phan Đình Phùng giữa ban ngày bị cướp liệng lựa đạn hoả mù vào nhà để cướp - ở 1 phố đông một thiếu nữ bị bắt cóc lên tắc-xi lột hết nữ trang - một thiếu nữ khác bị hiếp và hai nhát dao “kết liễu”!

Ăn cắp ôtô có tổ chức như ở Xi-ca-gô.

Diệm lại kêu: Đó là tại tàn tích của thực dân phong kiến.

Đồng ý! Nhưng ở đây Diệm lại chỉ còn quên có Diệm thôi!


4. Diệm nghĩ mọi cách để bảo vệ “thuần phong mỹ tục” phát triển những truyền thống tốt đẹp!

Có đưa ra mấy phương pháp: Chính quyền cấm lưu hành những hình ảnh loã thể! Nhưng sách báo và phim Mỹ lại nhiều những thứ ấy. Thế là một mâu thuẫn.

Cấm chiếu phim cao bồi và tiêu diệt nạn cao bồi… Nhưng phim cao bồi lại là của Mỹ.

Thế là hai mâu thuẫn.

Phát triển văn hoá lành mạnh, nhưng báo Lẽ sống lại viết: vì thiếu điều kiện và phương tiện hơn nữa ít sự nâng đỡ cho nên việc xuất bản sách báo ấy cũng chết dần chết mòn!

Ở miền Nam chỉ còn hai thứ mà Ngô Đình Diệm không thể chết dần, chết mòn được: đó là đế quốc Mỹ và Ngô Đình Diệm.


*


Hoàng Tích Linh
Xem mặt vợ [4]
(kịch ngắn một hồi)

Thời gian

Mùa thu, sáng chủ nhật

Nhân vật

Nguyện, ngoài 30 tuổi, công nhân
Chị Nguyện, ngoài 30, bán hàng xén, tổ trưởng phụ nữ khu phố
Tấn, 25 tuổi, cán bộ công trường
Lan, 20 tuổi, bán hàng ở mậu dịch
Dung, 18, y tá 1 cơ quan

Bài trí

Nhà Nguyện ở một ngõ lao động. Căn buồng vuông vắn có mảnh vải hoa bạc ngăn đôi. Cửa phía trong, trông ra mảnh vườn nhỏ và bếp. Đồ đạc sơ sài mấy tấm phản, tràng kỷ, bàn ghế. Đồ chơi trẻ con bày khắp nhà. Tường treo nhiều ảnh chụp và tranh "Công nhân kiến thiết", tranh "Thống nhất", tranh "Bác Hồ với thiếu nhi".

Màn mở lên

Cửa sổ và cửa trông ra phố mở tung. Nắng tràn vào trong nhà, những bức tranh màu sáng rực rỡ. Ngoài phố cảnh tấp nập một sáng chủ nhật.

Trên giường, anh Nguyện chăm chú chữa radio. Chị Nguyện nhanh nhẹn vắt lại cất màn, chiếu, quét giường.

CHỊ NGUYỆN, dáng vội vã – 7 rưỡi rồi. Cô ấy cũng sắp đến, nhà cửa lủng củng thế này, cô ấy lại chẳng cười cho (vui vẻ thu dọn bàn ghế, một chiếc ghế đổ).

NGUYỆN vẫn lúi húi chữa, không ngửng đầu lên – Cái gì thế?

CHỊ NGUYỆN nhìn chồng – Anh ngồi sù sù từ sáng đến giờ cũng không biết bảo con để nó bày bừa ra nhà (thu dọn đinh ốc, bóng đèn trên giường). Con bày, bố cũng lại bày, ai chịu được. Để tôi mang vào trong nhà mà chữa nhá!

NGUYỆN – Cái gì?

CHỊ NGUYỆN – Cô ấy hẹn sáng nay đến chơi đấy! Ai lại nhà cửa luộm thuộm thế này trông sao tiện?

NGUYỆN – Cô ấy đến xem mặt chú Tấn, chứ xem mặt nhà mình đâu mà sợ. Rõ dở hơi lắm!

CHỊ NGUYỆN – Phải, chẳng biết ai dở hơi. Lúc anh hỏi tôi anh đòi đến xem nhà hàng chục lần thì sao?

NGUYỆN – Thì lúc ấy người ta cũng vờ thế mới xem mặt cô được kỹ chứ. Ai đòi xem nhà làm quái gì!

CHỊ NGUYỆN – Bây giờ việc trăm năm của chú Tấn phận mình là anh chị phải trông nom. Cảnh nhà mình lao động chẳng có gì, lại càng phải giữ thể diện cho chú ấy. Anh cứ để mặc tôi thu xếp… Tôi đã dạm hỏi cả thẩy mấy đám. Chỉ có đám cô Dung này ưng ý nhất cả. Ít tuổi, tiến bộ, mẫu mực, lại có công tác tự túc được rồi. Chú Tấn nhà ta mà lấy được thì đẹp đôi lắm!

NGUYỆN – Biết vậy, còn tuỳ chú ấy chọn.

CHỊ NGUYỆN – Ai không biết là tuỳ chú ấy. Nhưng cũng phải biết ba bảy đường tuỳ. Giá chú ấy công tác ngay Hà Nội thì cũng còn dễ. Đằng này chú ấy công tác xa mới về, mình phải chọn nơi nào đích đáng nơi ấy, chú Tấn với người ta chỉ gặp mặt nhau có một lần là xong việc rồi chứ!

NGUYỆN – Xem mặt xong rồi cưới ngay…

CHỊ NGUYỆN – Chứ lại dề dà như anh ấy à. Tôi tính chú ấy được nghỉ phép ba tuần. Lỡ dịp này lại xin phép khó khăn ra. Bên nhà người ta mới xem ảnh cũng đã thuận ý rồi. Sáng nay chú cô ấy gặp gỡ nhau xong là cưới phắt ngay được.

NGUYỆN – Cô cứ nói như mai cưới ngay được rồi ấy! Việc lấy nhau bây giờ người ta còn tìm hiểu nhau chán ra kia rồi mới đặt thành vấn đề hẳn hoi được.

CHỊ NGUYỆN – Ấy gặp nhau khắc hiểu nhau ngay chứ khó gì. Giai chưa vợ, gái chưa chồng bắt duyên nhau lắm. Con gái đang ế chồng khối kia!

NGUYỆN – Đã chắc chú ấy bằng lòng chưa?

CHỊ NGUYỆN – Sao lại chẳng bằng lòng. Tôi đến chơi dò hỏi tính nết cô ta kỹ lắm rồi.

NGUYỆN bật cười – Thế ngộ nhỡ chú ấy không thích thì mình cũng bắt chú ấy phải thích à?

CHỊ NGUYỆN – Chẳng còn đám nào hơn đám này đâu. Được cả hai chị em. Nhưng cô em là cô Dung mới có 18 tuổi. Trẻ măng mà ăn nói đã chững chạc ra vẻ cán bộ lắm rồi. Tôi xem ý chú Tấn cũng tán thành món cô Dung đấy (gọi với trong sân) chú Tấn, chú Tấn ơi! Hãy nghỉ tay ra đây nói chuyện.

Tiếng Tấn ngoài vườn.

NGUYỆN – Này, thế còn cô chị?

CHỊ NGUYỆN – Cô Lan hơn em hai tuổi. Nhà ấy được cả hai đều xinh xắn cả.

NGUYỆN – À … thế để chú ấy gặp cả hai rồi thuận ý ai thì lấy.

CHỊ NGUYỆN – Sao anh lại cứ bàn lằng nhằng thế. Giới thiệu cô chị làm gì thêm nhiễu chuyện ra. Cô chị tự nhiên lắm. Còn cô em nền nếp hơn lại có nghề trong tay. Tôi đã cân nhắc chán rồi. Chú Tấn công tác trên rừng trên rú phải tính lấy người biết thuốc men trong nom săn sóc mới được. Chú Tấn mà không lấy được cũng hớ.

NGUYỆN – Ờ, cứ kể thế thì lấy được đấy!

CHỊ NGUYỆN cười – Anh rõ thật "quan bẩy cũng gật, quan tư cũng ừ" chẳng ra làm sao. Chú Tấn còn tinh hơn anh nhiều.

Tấn ra, nét mặt hí hửng.

TẤN – Anh chị nói xấu gì em thế?

CHỊ NGUYỆN – Chú ra đây. Tôi đang nói xấu chú đây này. Người đến là đoảng. Bàn chuyện cứ hay bàn ngang. Việc của chú có dở dang, chú cứ bắt đền anh đấy.

TẤN – Em bắt đến cả chị nữa.

CHỊ NGUYỆN – Tôi tính đâu vào đấy rồi. Chú nghỉ chẳng được bao ngày. Nhân tiện chú cần tiêm cho dứt nọc sốt rét đi. Tôi sẽ mách cô ấy từ mai ngày ngày đến trông nom thuốc men cho chú. Chú, cô tha hồ có cớ đi lại nói chuyện bàn bạc với nhau, thế có phải tiện cho mọi đường không?

NGUYỆN – Cô bàn cách ấy được đấy.

CHỊ NGUYỆN – Bây giờ xem mặt nhau cũng đã dễ dàng lắm đấy. Trước kia hồi xem mặt tôi, anh chú long đong hàng mấy tháng mà có được tích sự gì đâu. Ngày ngày đi qua hàng tôi, tiền đã chẳng có lại còn vờ hỏi hết thứ này đến thứ khác. Được thế, tôi càng trêu dấn. Lắm lúc nghĩ đến tức cười. Còn việc của chú tôi tính như thế, chú thấy thế nào?

TẤN – Cũng còn phải xem ý tứ cô ấy thế nào đã chứ.

CHỊ NGUYỆN sốt sắng – Tôi biết cả đôi bên. Từ hoà bình được học tập cô ấy tiến bộ nhanh lắm, gương mẫu nhất cơ quan đấy. Đôi bên hợp lắm rồi. Chú chẳng phải đắn đo gì nữa đâu.

NGUYỆN – Ấy… việc này không hấp tấp được. Chú phải tìm hiểu cho thật chắc chắn đi. Thời buổi này phải hợp tình hợp ý, đôi bên thoả thuận cả mới nên lấy nhau. Sau này còn ăn đời ở kiếp với nhau không phải thắc mắc mảy may gì nữa có hơn không?

TẤN – Có thế nào cũng còn phải hỏi ý kiến anh chị nữa.

NGUYỆN – Cứ ý chú là chính. Anh chị có ý kiến chỉ là phụ thôi. Việc này dân chủ bơn bớt mới được. Bàn quá là nát. Lúc tôi lấy chị cũng vậy. Hai đứa ưng thuận nhau là lấy ngay, giá lại đưa cho ông anh, bà chị, ông chú bà thím bàn ra tán vào thì cũng chẳng xong đâu.

CHỊ NGUYỆN – Việc chú chẳng khó đâu. Người ta cũng dễ tính thôi. Chỉ cần chú với cô Dung quyết định nữa là xong.

NGUYỆN – Chú được nghỉ ba tuần phải tiến hành thế này mới chóng vánh được. Tuần đầu tìm hiểu, hai tuần sau cưới. Còn mọi việc cưới xin ra sao, chú chẳng phải lo. Đã có chị, chị làm tổ trưởng phụ nữ khu phố tổ chức tập thể quen rồi.

CHỊ NGUYỆN – Mọi việc tôi đã tính toán đâu vào đấy. Chính quyền mời ai, khu phố mời ai, ban văn nghệ liên hoan thế nào đã sẵn sàng cả rồi chú không ngại việc đó.

NGUYỆN – Thôi phiên phiến thôi. Người ta đến dự cưới chứ có đi họp đâu. Cô đã dự nhiều đám rồi về kêu ca mãi mà bây giờ lại còn bày vẽ ra…

Cô Lan đỗ xe đạp ngoài cửa.

CHỊ NGUYỆN, thấy trước, giục chồng – Đấy các cô ấy đã đến kia. Nhanh tay lên anh (Nguyện mang vội đồ chữa ra-đi-ô vào trong nhà. Chị Nguyện vui vẻ bảo Tấn) Kìa chú, chú cũng vào thay quần áo đi. Ai mặc áo lót thế kia mà lại định xem mặt vợ bao giờ?

Chị Nguyện đon đả ra tận cửa đón.

LAN nhanh nhẹn vui tính – Chị! Lần đầu đến chơi chị lại đến muộn để chị phải đợi lâu quá.

CHỊ NGUYỆN – Cô ngồi đây. Các cô đã hẹn hôm nay chủ nhật lại chơi, tôi yên trí không sáng thì chiều thế nào rồi các cô cũng đến.

LAN – Sợ chị đợi em phải đến trước đấy. Dung bận tí việc đến sau chị ạ.

CHỊ NGUYỆN – Ấy, cứ thấy cô Dung là thấy bận. Công tác của cô ấy vất vả thật. Có lẽ chủ nhật cũng không được rỗi mấy cô nhỉ.

LAN – Em Dung không bận lắm đâu. Công tác như em thôi. Chủ nhật cũng được nghỉ cả ngày. Có hôm nay Dung tạt qua cơ quan báo cáo chắc cũng sắp lại đây.

CHỊ NGUYỆN – Ra thế… tôi lại cứ tưởng… Hôm nay cô lại chơi. Chỗ cô tự nhiên cứ coi như người nhà mới nói thẳng thắn ngay vào việc được…

LAN cười tinh ý – Em biết loáng thoáng rồi. Hôm nọ bác Phúc có đưa cho chúng em xem ảnh của anh Tấn. Nếu hợp tình hợp tính thì càng tốt. Đằng em với bên nhà chị lại thành chỗ người nhà chị nhỉ?

CHỊ NGUYỆN – Thế còn gì bằng nữa. Chú em nhà tôi năm nay 24 tuổi rồi đấy. Nói chuyện vợ con cứ chối đây đẩy. Tính người cũng dễ dãi. Là người kháng chiến thật đấy mà ăn nói còn lúng túng lắm.

LAN – Bây giờ phụ nữ chúng em mong lấy chồng hay chứ chẳng cần người nói hay, chị ạ.

CHỊ NGUYỆN – Vẫn biết thế… nhưng cách thức Hà Nội ta biết ăn nói vẫn hơn có phải không cô?

LAN hóm hỉnh – Chúng em đã bảo nhau rồi. Chồng con không cùng một chí hướng cũng cắt đứt. Không chồng suốt đời cũng được.

CHỊ NGUYỆN cũng cười – Cô nào cũng nói như vậy mà chả cô nào cứng rắn mãi được đâu. (Tấn ra) cô Lan đến chơi… Chú ngồi đây.

LAN tự nhiên – Anh công tác ở công trường.

TẤN – Vâng, ở công trường cầu cống.

LAN – Vui lắm phải không anh?

Chị Nguyện lặng lặng mang ấm nước vào.

TẤN tự nhiên hơn – Thích nhất chỗ công trường tôi làm là công trường động. Ở chỗ này vài tháng xong việc lại chuyển đi nơi khác. Hai năm nay chuyển ba lần. Hết Bắc Giang lại Việt Trì rồi Lao Kay. Rồi sắp vào Thanh, xuống Vinh.

LAN – Công tác của anh được đi nhiều nơi thích nhỉ.

TẤN sôi nổi – Sau này thống nhất, con đường còn dài, còn nhiều cầu cống, còn khai phá nhiều đường mới. Chỉ sợ chân mình không đi hết được. Tính tôi quen từ nhỏ như hòn bi, ngồi lì ở một chỗ không chịu nổi.

LAN – Thế những người ngồi lì mãi Hà Nội thì anh bảo sao?

TẤN – Tại mỗi người một tính, một nết. Hợp đâu, thích đấy.

LAN – Thế chắc anh không thích Hà Nội.

TẤN – Hà Nội lại khác. Năm 50 tôi còn học kỹ nghệ, sau thích hoạt động mới bỏ học ra kháng chiến. Công tác xa Hà Nội thực, nhưng vẫn nhớ chứ. Tôi thích công tác liên miên vài tháng mới lại về Hà Nội một lần.

LAN – Nghe anh nói cũng thích rồi, công tác hợp mới phấn khởi được (hơi buồn) công tác tôi lại khác hẳn anh.

TẤN – Tưởng chị làm ở mậu dịch đông người mua bán chắc phải tấp nập suốt ngày.

LAN – Bề ngoài thế thôi, trông vui mắt nhưng buồn lắm, anh ạ. Ngày hai buổi lại bán hàng, lại ghi sổ, lại thu tiền. Mà khách hàng khó tính không chịu được. Lắm lúc bực gắt lại bị phê bình.

TẤN – Tại chị chưa quen đấy.

LAN – Không phải quen đâu. Phê bình không đúng mới bực mình chứ.

TẤN đùa – Chị nói thế chẳng ma nào muốn xin vào mậu dịch bán hàng nữa.

LAN cười – Thì anh vừa bảo, tại mỗi người một nết, hợp đâu thích đấy, (nghĩ ngợi) chỉ tại cần phải đi làm để đỡ cho mợ tôi ở nhà quấn chỉ kiếm không đủ nuôi các em đi học. Tính tôi lại thích bay bổng, nhưng bay bổng khác anh kia. Tôi đang học thêm nhạc. Rồi tôi sẽ hát ở đài phát thanh. Lúc ấy tiếng hát của tôi sẽ vang đi khắp nơi, tôi sẽ hát cho mọi người nghe… Tôi tin là tôi phục vụ được nhiều hơn bây giờ.

TẤN – À… lúc ấy tôi công tác xa mà nghe được tiếng hát của người mình quen biết chắc thích hơn cả.

LAN – Anh cũng thích hát à?

TẤN – Tôi không biết hát nhưng thích nghe hát. Tính tôi như ngựa lồng thế này không thích ca hát sao được. Tôi cho chỉ có bụt là không thích nghe hát mà thôi.

Hai người cùng cười thân mật hơn. Chị Nguyện mang nước ra, chợt thấy, hơi khó chịu, lại lẳng lặng quay vào.

LAN – Nhiều người không thích hát chứ. Mợ tôi, cả Dung cũng thế. Chỉ có mấy em nhỏ là nó thích bắt tôi hát luôn. Mợ tôi bực lắm, nhưng tôi lại hát để tập dượt nhân thể.

TẤN – Thế chị hát cho tôi nghe một bài. Lần đầu gặp chị lại được nghe chị hát.

LAN tự nhiên ngượng nghịu – Ai lại thế bao giờ. Lần khác, anh ạ.

Yên lặng, Tấn suy nghĩ nhìn Lan.

LAN – Ờ, sao mãi Dung không lại? (lảng sang chuyện khác) Anh còn nghỉ, mời anh lại chơi nhà.

TẤN – Tôi mong thế lắm. Cũng muốn đến luôn. Chỉ sợ phiền…

LAN – Có gì là phiền đâu. Anh cứ đến chơi. Tối nào Dung cũng có nhà. Quen chị ở đây là được biết anh, mà tính anh tự nhiên càng dễ gần hơn chứ.

TẤN vui vẻ – Thế tôi sẽ đến luôn. Và chị phải hát nhé. Rồi tôi sẽ cho chị xem nhưng kỷ niệm kháng chiến của tôi.

LAN – Ờ… thế anh phải cho tôi xem trước rồi tôi mới hát.

TẤN – Mà chị phải hát thật hay kia.

LAN cười – Nhất định thế. Tiện bây giờ anh lấy cho xem trước đi.

TẤN thân mật – Nhưng chị cũng phải hát ngay đấy nhé. (Chạy vào trong đem túi dết ra) Công tác nay đây mai đó rất cần kỷ niệm (giở túi dết, tư lự) giở cho chị xem, chị hiểu được hết đời tôi đấy.

Hai người sát vai nhau.

TẤN – Đây, chiếc túi gấm thêu và con dao là của mẹ nuôi người Thổ, chợ Chu, hồi bà cụ còn con gái. Hôm bà cụ sắp chết, không chôn theo, bà cụ cho đứa con nuôi người Kinh làm kỷ niệm. Cứ một vật này hôm nào lại chơi tôi kể cho chị nghe cũng nhiều chuyện rồi. Có lẽ để tôi giở cho chị xem trước tập ảnh thì hơn.

Hai người cùng nhau giở chung ảnh. Anh Nguyện ra lấy cái dùi ở giường đằng sau. Cả hai cùng không biết.

TẤN – Ra kháng chiến tôi vào ngay bộ đội. Ảnh này chụp ở cầu Hàm Rồng sau chiến dịch Hà Nam Ninh, đây là những ảnh dân công khi tôi chuyển sang công tác ở Sông Đà. Đây, ảnh mẹ nuôi tôi. Và ảnh tôi mới chụp.

LAN xem kỹ – Ảnh này đẹp hơn ảnh bác Phúc cho xem trước (nhìn Tấn). Trông trẻ mà giống anh hơn (cười). Thế mà anh lại định giấu diếm.

Dung vào, áo cán bộ màu xanh. Cả hai vẫn không biết. Dung ngập ngừng không đánh tiếng.

CHỊ NGUYỆN vừa ra trông thấy – Kìa cô Dung. Cô vào đây. Đợi mãi cô.

DUNG – Chị mặc em.

LAN – Sao chậm thế, hở Dung?

CHỊ NGUYỆN kéo ghế vồn vã – Cô ngồi đây… Chú Tấn lấy hộ chị ấm nước.

DUNG với LAN – Bực quá, chị ạ. Công đoàn gì mà chủ nhật đi chơi hết. Em đợi hơn nửa giờ, chẳng gặp ai.

LAN – Chẳng vội. Lúc nào báo cũng được.

DUNG – Nên báo cáo ngay chị ạ. Công đoàn còn theo rõi giúp đỡ ý kiến chứ.

CHỊ NGUYỆN bảo LAN – Cô Lan này, ra chợ xem gian hàng của tôi đi. Không lại bảo biết nhà mà không biết cửa hàng.

LAN – Vâng… đi đi chị.

Cả hai cùng ra. Tấn và Dung yên lặng.

TẤN – Cô vẫn làm việc?

DUNG – Vâng, tôi làm việc ở Bộ. Ở Bộ bận hơn các cơ quan khác.

Yên lặng.

TẤN – Tôi mới về hôm qua. Được nghỉ hơn 20 ngày.

DUNG – Chỗ anh công tác, y tế phục vụ có báo đảm lắm không?

TẤN – Cũng khá.

DUNG – Công trường càng cần phải tích cực chống sốt rét mới thực hiện được kế hoạch 56.

Lại yên lặng.

TẤN – Tôi về cũng có ý định lập gia đình. Thấy chị tôi nói chuyện nhiều về cô. Trong thời gian nghỉ mong được trao đổi với cô.

DUNG – Vâng, … Việc này anh hãy thư thả. Mợ tôi cũng đã biết rồi. Nhưng tôi chưa báo cáo Công đoàn. Tôi định đến nhưng không gặp.

TẤN – Trước hết là chúng ta tìm hiểu nhau đã.

DUNG – Theo ý tôi trước hết là tổ chức cơ quan phải biết đã. Như vậy đảm bảo hơn.

TẤN – Vâng, thế cũng được.

DUNG – Bộ không định hẳn nguyên tắc đó. Nhưng chính bây giờ tôi lại thấy cần phải có tổ chức xây dựng cho mình. Mợ tôi cũng thấy thế là đúng.

TẤN – Tôi cũng không phản đối việc đấy.

DUNG – Như vậy chỉ có lợi mà không ảnh hưởng đến sau này phải không anh? Về điểm này tôi và anh cùng giống ý nhau rồi đấy.

TẤN bắt đầu khó chịu – Vâng.

DUNG – Còn khó khăn nữa là tôi với anh công tác không những xa mà lại khác ngành nhau. Ăn ở với nhau rồi khó.

TẤN – Sau này sắp xếp công tác cùng một cơ quan cũng dễ thôi. Cái khó là sợ không cùng một chí hướng, tình cảm.

DUNG – Tôi tưởng chúng ta cùng phục vụ cho cách mạng là cùng một chí hướng rồi. Hơn nữa, anh lại là gia đình công nhân, thế càng tốt.

TẤN – Vâng.

DUNG – Tôi về, anh ạ. Tôi báo cáo với Công đoàn rồi lại gặp anh. Đến tối… à tuần này tôi mắc học cả. Có gì, lại sáng chủ nhật sau, anh nhé.

Lan vào hơi ngạc nhiên.

LAN – Dung đã về à? Ngồi đây chơi đợi chị Nguyện.

DUNG – Chị về sau.

LAN – Này, Dung đi đâu vội thế?

Dung vẫn đứng cửa.

LAN – Anh Tấn nghỉ phép không lâu đâu. Công tác xa ốm yếu xanh lắm, cũng cần tiêm cho khoẻ. Có thuốc sẵn rồi. Dung xem giờ nào tiện, ngày ngày đến tiêm cho anh Tấn.

DUNG nghĩ ngợi – Cũng hơi phiền, chị nhỉ (một lát). Thế chưa tiện đâu. Để em báo cáo với cơ quan đã. Sáng chủ nhật sau, chị ạ…

LAN băn khoăn – Dung, Sao Dung phải để đến tuần lễ sau mới lại được? Dung nghĩ xem: Anh Tấn được nghỉ phép có ít ngày. (Không tiện nói hết ý mình, như nằn nì với em) Dung đến vào buổi tối thôi mà.

DUNG thản nhiên – Tuần lễ này buổi tối em bận mà vấn đề của em với anh Tấn nên nghiên cứu kỹ về mọi mặt… Em không thể làm hơn được. Đến chủ nhật sau chưa muộn. Thôi em về đây, chào anh nhá.

Dung ra vội, Lan cũng lúng túng đứng dậy.

TẤN – Chị cũng lại định về ?

LAN – Không… không… Phiền quá nhỉ! Hay là, chiều anh lại chơi với mẹ em? Dung có nhà đấy.

TẤN – Tôi không cần tiêm và cũng không cần…

LAN sốt sắng – Cần lắm chứ. Anh cần phải khoẻ. Anh còn phải công tác nhiều.

TẤN – Không, tôi không muốn (tha thiết nhìn Lan) Tôi mong cô hiểu…

LAN cảm động – Để tôi bảo Dung.

TẤN – Không, Không! (càng tha thiết) Cô Lan!

LAN thêm lúng túng – Anh bảo gì em kia?

TẤN cũng lúng túng – Tôi muốn nói chuyện với cô… cô Lan!

LAN ngượng – Vâng.

TẤN sôi nổi âu yếm – Lan! Biết Lan, tôi thấy mến Lan hơn, tôi không thể…

LAN thẹn nhưng sung sướng – Em không… Ai lại thế bao giờ? Em về đây (bỏ chạy ra cửa).

TẤN – Cô Lan, Lan (chạy vào trong nhà, dắt xe đạp ra, nói với) Anh cho em mượn xe đạp một lát nhé.

Đến cửa gặp chị Nguyện về.

CHỊ NGUYỆN ngạc nhiên – Chú vội đi đâu đấy!

Tấn không kịp trả lời, lên xe hấp tấp. Anh Nguyện cũng vừa ra.

CHỊ NGUYỆN – Cô Dung đâu?

ANH NGUYỆN – Ai biết đâu đấy!

CHỊ NGUYỆN – Sao chú Tấn lại đi với cô Lan?

ANH NGUYỆN – Lạ thật! Sao mình lại hỏi tôi? Chú Tấn chọn vợ chứ mình chọn vợ à? Dở hơi lắm! Thôi mình vào khiêng giả lại tôi cái radio ra chữa đây.

Hai người cùng cười. Vào phía trong.

Màn từ từ khép theo.

2-9-56


*


Tranh châm biếm, ký tên Pha Y, vẽ hai người. Một người cầm hai chiếc mũ, trên mũ ghi "Bất mãn, tiêu cực", hỏi: “Sao ‘trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng’ mà anh cứ lầm lỳ và không sáng tác được gì?”

Người kia đội một chồng mũ, trên mũ ghi "Địa chủ, phản ứng, tả khuynh, hữu khuynh, tiểu tư sản, mất cảnh giác, mất lập trường", trả lời: “Anh cứ trông đầu tôi thì biết”.


_________________________

[1] Trang 2

[2] Mất mấy chữ vì báo rách, chưa khôi phục được

[3] Trang 2, với hai minh hoạ

[4] Bài chiếm toàn bộ trang 3, xem tiếp ở trang 4

Nguồn: Nhân văn số 2, ngày 30.9.1956. Bản điện tử do talawas thực hiện.
Nguồn: Talawas

NVGP * 2. NHÂN VĂN 3 * PHẦN 2

2. NHÂN VĂN 3 * PHẦN 2
Báo Nhân văn số 3 (phần thứ hai)

Hoàng Cầm
Đọc lại Vũ Như Tô, kịch của Nguyễn Huy Tưởng [1]

Là một người ham mê tìm đề tài trong lịch sử dân tộc viết thành kịch, tôi đã rất ham mê khi đọc lại vở kịch năm màn của Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng.

Tác giả đã dựng một nhân vật lịch sử Vũ Như Tô, một nghệ sĩ có tài, một nhà kiến trúc ôm hoài bão lớn là xây dựng một công trình nghệ thuật vĩ đại, tô điểm cho non sông. Hoài bão đó phù hợp với cuồng vọng của một tên bạo chúa – Lê Tương Dực - muốn có một toà lầu nguy nga để hưởng lạc thú. Nhưng tấn bi kịch đã xảy trong cái mâu thuẫn gay go giữa chế độ bạo ngược và tài năng nghệ sĩ. Lê Tương Dực thích có Cửu trùng đài, nhưng không tôn trọng, quí mến thiên tài. Hắn thích sống trong toà lầu nguy nga, nhưng lâu đài đó phải xây dựng bằng xương máu nhân dân đang oán ghét hắn, oán ghét chế độ thối nát của triều đại phong kiến đang đổ vỡ. Bản thân nhà nghệ sĩ Vũ Như Tô cũng gặp một mâu thuẫn, bi đát giữa trí sáng tạo rộng lớn với hoàn cảnh thực tế của nhân dân đói khổ lầm than mà nghệ sĩ vô cùng thương xót. Làm thế nào để đạt được nghệ thuật làm giàu cho kho tàng mỹ thuật của đất nước mà nhân dân lại không phải chịu sưu cao thuế nặng, tốn xương, tốn máu? Cái mâu thuẫn đó không thể giải quyết được. Bọn phong kiến đánh lẫn nhau, nhân dân nổi lên lật đổ bạo chúa. Kết quả: toà lầu không xây dựng được, nhà nghệ sĩ phải chết chém.

Nguyễn Huy Tưởng đã nêu bật được cái mâu thuẫn sâu sắc đó trong lịch sử. Hai nhân vật rất đẹp, rất tự hào, sống sôi nổi dưới ngòi bút của anh; Vũ Như Tô và Đan Thiềm, một cung phi đồng tình với nghệ sĩ.

Và tên bạo chúa Lê Tương Dực cũng hiện ra: cuồng bạo, bỉ ổi, tiêu biểu cho một triều đại phong kiến suy tàn và độc ác. Những rung cảm mãnh liệt của tác giả trước một nhân vật lớn, một nghệ sĩ của nhân dân, đã thổi một hơi rất mạnh khiến ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng trở nên sâu sắc. Qua 10 năm, từ khi vở kịch được in ra (1946-1956), tôi đọc lại và theo con mắt của một người đã từng sáng tác, đạo diễn và biểu diễn kịch lịch sử, tôi đã tưởng tượng ra những sân khấu rất tráng lệ, trong đó tấn thảm kịch Vũ Như Tô diễn ra, đau đớn nhưng mãnh liệt, những cảnh đó, với diễn viên chọn lọc và một nhà đạo diễn thông minh mà chúng ta không thiếu, nhất định sẽ nói được cái lớn lao của tâm hồn nghệ sĩ nhân dân: không khuất phục trước cường quyền, một lòng tin vững chắc vào nghệ thuật của mình làm khiếp đảm tên bạo chúa. Đồng thời, chúng ta sẽ thấy được cái mâu thuẫn ghê gớm giữa sức phát triển của nghệ thuật và chế độ không có tự do của bọn phong kiến. Cuối cùng trên sân khấu, tài năng của nhà nghệ sĩ Vũ Như Tô đã bị giẫm nát, đốt cháy, nhưng cũng lại do cái thông cảm lớn của Nguyễn Huy Tưởng, chúng ta thấy nghệ thuật của nhân dân có một ánh sáng lớn mãi muôn đời về sau, và tâm hồn nhà nghệ sĩ Vũ Như Tô đã như những tia hào quang rọi mãi từ thời Lê mạt đến chúng ta ngày nay.

Cuộc cách mạng vĩ đại của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, đã mở một chân trời rộng cho nghệ thuật. Văn nghệ sĩ nhất trí theo đường lối chính trị của Đảng, nhất trí với quyền lợi của nhân dân. Rồi đây trong cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, biết bao nghệ sĩ có tài sẽ càng ngày càng được khuyến khích, hun đúc tài năng, tạo nên những công trình nghệ thuật lớn cho nhân dân, muôn màu, muôn vẻ, làm thoả mãn đuợc cái khát vọng của bao nhiêu nghệ sĩ ngày xưa bị vùi dập bởi cường quyền, hôn quân, bạo chúa, thực dân, phát xít.

Kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, tuy bố cục còn lỏng lẻo (ở màn 2, màn 3) và lời nói của nhân vật nhiều chỗ chưa gọn, về căn bản tác giả đã thành công. Màn 1, màn 4, màn 5 là những màn sôi nổi nhất phản ánh sâu sắc cái mâu thuẫn gay go, bi thảm mà chủ ý tác giả định phơi bầy.

Chúng tôi nghĩ rằng các đoàn văn công lớn, các đoàn kịch tư nhân và Ban Nghiên cứu Sân khấu của Bộ Văn hoá sẽ xét lại một số kịch bản đã bị bỏ quên, nhất là vở Vũ Như Tô, và mạnh bạo đưa lên sân khấu, qua tay những đạo diễn nhiều kinh nghiệm như Thế Lữ, Chu Ngọc, Phan Vũ, Hoàng Tích Linh v.v... Làm như thế, chúng ta sẽ thoát khỏi tình trạng “thiếu vở” hiện nay, và trong khi chờ đợi có những vở mới, khán giả cũng đỡ phải xem đi xem lại một vài vở kịch giả tạo, công thức, đã quá nhạt nhẽo trước cuộc đời.


*


Trần Phương
Coi trọng ý kiến và con người anh chị em biểu diễn nghệ thuật [2]

Cuối năm 1954, một số anh em trong Văn công Trung ương cộng tác sáng tác vở ca kịch Lửa rừng để góp phần xây dựng cho Đại hội Văn công Toàn quốc và cũng mang một mong ước góp thêm những viên gạch đầu tiên cho nền nhạc kịch mới của đất nước. Công trình viết vở và làm nhạc mất gần hai tháng trời (không kể thời gian đi nghiên cứu và sưu tầm tài liệu). Vở kịch được sơ bộ dựng lên sau một tháng trời luyện tập có sự tham gia ý kiến xây dựng của những người lãnh đạo ngành văn nghệ tức là Vụ Nghệ thuật bây giờ. Ai cũng mang một hy vọng vở ca kịch Lửa rừng sẽ mang một tiếng nói quan trọng cho Đại hội về vấn đề ca kịch mới. Lửa rừng dược đem diễn thử tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Thời gian trôi qua, Lửa rừng không đuợc tập và cũng không được biểu diễn nữa... Tôi có hỏi Lê Yên, người sáng tác phần âm nhạc của vở kịch, Lê Yên trả lời là cũng không nắm được vấn đề cụ thể. Thế là chúng tôi, những anh chị em diễn viên của vở kịch chỉ hiểu vẻn vẹn là cấp trên nhận dịnh sai cho nên không tập, cũng không biểu diễn nữa và tất cả diễn viên lúc đầu cũng chưa ai phân tích nổi cái sai của vở kịch.

Sau khi đi hỏi người này, người khác câu chuyện mới vỡ nhẽ ra là như thế này:

Hôm diễn ở Nhà hát Lớn chỉ vì một cái lắc đầu và một câu phê: “Tiểu tư sản!” của một đồng chí lãnh đạo cao cấp trong văn nghệ, ấy thế là các đồng chí lãnh đạo cấp dưới quyết định đóng cửa ca kịch Lửa rừng và cũng bất cần cả ý kiến của những con người đã đổ mồ hôi nước mắt, đã thao thức từ đêm này qua đêm khác cho vở kịch.

Tôi nghĩ đến những buổi học tập của diễn viên, lời nói của Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư còn như sang sảng bên tai: “... Người diễn viên, lao động sáng tạo nghệ thuật của mình, ý kiến người diễn viên góp phần vô cùng quan trọng cho sự thành công hay thất bại của vở kịch...” Tôi nghĩ đến lần đi xem biểu diễn những vở ca kịch lớn của nước bạn Trung Hoa, sau Bạch mao nữ và Lưu Hồ Lan rồi Tiếng hát trên đồng cỏ v.v...; những người diễn viên chúng tôi chua xót nhìn nhau nghĩ đến nền ca kịch mới của nước mình gần như chưa có gì, nghĩ đến trách nhiệm của mình, nghĩ đến cái lãnh đạo kém cỏi đã hạn chế sức sáng tạo trong đường lối trăm hoa đua nở của những con người sáng tác và biểu diễn ca kịch.

Ở đây tôi nói câu chuyện Lửa rừng làm một thí dụ trong nhiều sự việc ở những con người biểu diễn nghệ thuật trong các đoàn văn công để yêu cầu các đồng chí lãnh đạo đã nói thì phải làm, phải coi trọng, đề cao, lấy và phát triển ý kiến của những con người biểu diễn nghệ thuật. Một điệu múa, một bài hát, một vở kịch nên biểu diễn hay nên bỏ không phải ở một vài cá nhân lãnh đạo muốn hay không muốn mà phải do những người đã lao động vì nó nói tiếng nói trước nhất, đóng góp một phần quyết định quan trọng trong sự biểu diễn tác phẩm nghệ thuật.

Vấn đề thứ hai tôi muốn nói ở đây là những vấn đề trong đời sống sinh hoạt của người diễn viên. Tôi đã có dịp được gặp những anh chị em trong các đoàn nghệ thuật Liên Xô, Trung Hoa, cuộc sống thoải mái của họ gần như không phải bận bịu với những sinh hoạt hằng ngày. Họ không còn băn khoăn như những anh chị em diễn viên đội xiếc ở Vụ Nghệ thuật đã vào đội chín tháng trời, đã đi biểu diễn ở Hà Nội, Việt Bắc, khu Tả ngạn, Hữu ngạn (đồng bằng) mà vẫn chưa được tuyển dụng chính thức, vẫn còn phải mang theo một lo lắng: “Khi biểu diễn phải cẩn thận, ngã què chân mà lúc ấy không được tuyển dụng thì rồi sẽ làm gì?”

Trong chín tháng trời qua vẫn chưa đủ thời gian để nghiên cứu lý lịch hay sao mà vẫn để anh em canh cánh bên lòng một mỗi lo, ảnh hưởng tới việc biểu diễn như vậy. Nghệ thuật xiếc là một nghệ thuật vô cùng lao lực, rất dễ mang đến nguy hiểm cho người diễn viên, do vậy cần phải có chế độ bồi dưỡng và bảo hiểm tương đối thích đáng với lao động của họ. Đã sáu, bẩy tháng trời nghiên cứu mà đến nay vẫn chưa có thái độ dứt khoát, cũng vẫn một số sinh hoạt phí tạm tuyển trên dưới ba vạn đồng. Đó là một vấn đề rất thực tế, mang thêm một thắc mắc trong lòng anh em. Có phải là hoàn cảnh chúng ta hiện nay thiếu thốn quá đến mức như vậy không? Hay là sự chú ý của các đồng chí lãnh đạo còn chưa đoái hoài tới? Câu chuyện này không phải chỉ là diễn viên thắc mắc mà còn ở cả quần chúng nữa. Sau khi xem biểu diễn xiếc, thường có nhiều tiếng xì xào: “Trông diễn viên xiếc gầy quá, thương quá!” Thiếu tướng Chu Văn Tấn nói khi xem anh em biểu diễn: “Phải bồi dưỡng thêm cho sức khoẻ của anh chị em”.

Câu chuyện phải luôn luôn lo lắng về đời sống sinh hoạt rất phổ biến trong diễn viên. Sau một đem biểu diễn đã quá khuya, họ mệt mỏi nằm suy nghĩ lo lắng sáng mai không dậy được đúng còi, đúng kẻng. Người chuyên đánh đàn, lúc làm trực tinh cũng phải hô “nghiêm nghỉ” cho giống tác phong quân sự, người chuyên thổi kèn luôn luôn phải thắc mắc về cái chuồng lợn, chuồng gà cho đoàn. Những anh em khác bận rộn về chỗ ăn chỗ ngủ, cái bát, đôi đũa, cái bàn ngồi viết v.v... “trăm thứ bà dằn” đó đã làm bận bịu khá nhiều trong đời sống nghệ thuật của người biểu diễn.

Các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí chính trị viên chưa thiết thực làm nhiệm vụ giúp cho tinh thần của diễn viên được trau dồi. Chưa có người chuyên trách lo cho anh em những vấn đề sinh hoạt linh tinh để tâm hồn khỏi bận bịu, tập trung được nhiều trong việc sáng tạo làm cho nghệ thuật biểu diễn của chúng ta phát huy được hết khả năng.

Tôi mạnh dạn phát biểu một vài ý kiến của một người biểu diễn nghệ thuật, rất mong được sự góp ý thêm của các bạn diễn viên, để xây dựng một nề nếp công tác và sinh hoạt tốt cho diễn viên bấy lâu bị coi nhẹ và kìm hãm.


*


Thơ Mai-a-cốp-ski
Nói lớn [3]
Trần Dần dịch theo từ bản tiếng Pháp của Elsa Triolet. Chú thích của Elsa Triolet và Trần Dần

Bài này Mai-a đọc lần đầu tiên trong “Cuộc triển lãm 20 năm làm việc” của Mai-a, năm 1930 – T.D.


Các đồng chí cháu vẻ vang ơi!
Trong khi
moi đống đá thời kỳ này,
nghiên cứu cái ngày nay tăm tối
các cháu
có lẽ không hiểu rõ
ta là ai?
Các cháu
sẽ nghe thầy học giảng
đàn ong câu hỏi
thầy đem tri thức phủ lên đầy,
giảng rằng
Mai-a xưa
là nhà thơ ca ngợi nước đun sôi
đối nước lã, anh ta thù số một [4]
Ông thầy hỡi!
hãy hạ đôi mục kỉnh!
Mặc tôi,
câu chuyện thời đại
câu chuyện tôi,
tôi kể lấy
Tôi là người tẩy uế,
là người phu gánh nước,
Cách mạng hô hào
tổng động viên tôi
tôi ra trận,
rời xa nơi thâm nghiêm kín cổng cao tường
là nơi ăn chốn ở nàng thơ,
con người kỳ quặc
Nàng có một khu vườn xanh xẻo:
một con tim
tí nước chảy
chút khí trời
một cái giường êm.
“Em dạo vườn em,
em hái bông hồng, bông lựu”
Anh thứ nhất đem thơ tới tưới
ướt người em!
Anh thứ hai
lại rảy nước thơ em!
- hết Mi-tơ-ray-ka lấm la
lại Cu-dờ-ray-ka lấm lét – [5]
Quái quỉ chưa! Đố gỡ cho ra!
Chúng làm ta phát muộn phát sầu
đứng trên bao lơn,
chúng tình tang cây măng-đô-lin tang tính:
“thơ thơ, thiếc thiếc
iếc, ơ”...
Phúc phận mỏng,
tôi lìa xa hồng lựu ý,
nào pho tượng người tôi
xuất hiện
giữa công viên
đầy đờm mủ của người gái đĩ
người ho lao,
đứa vô lại,
kẻ tim la
Và tôi,
người tuyền truyền động viên
thực chán ngấy chưa nào
Tôi có thể
đẻ đái ra
những bản tình ca:
ăn tiền lắm!
thực là ăn khách lớn!
Nhưng mà không
tôi tự kìm hãm ghìm
tôi,
tôi dang chân
chẹn cổ họng tiếng tôi ca.
Các cháu ơi!
Hãy lắng nghe ta,
người tuyền truyền,
người thủ trưởng phóng thanh!
Tôi dập tắt
những dòng thơ man mác
bước chân qua
những trang sách trữ tình
tôi đến đây đúng như
người đang sống
nói cùng người đang sống.
Tôi đến nói với các con, các cháu
Trong đời cộng sản xa xăm
không phải đến
như loài Ét-xê-nhin hon hót. [6]
Thơ tôi đến
trên đầu muôn thể kỷ
vượt qua vai
các vị cầm quyền, và mọi nhà thơ
Thơ tôi đến
không như cái lưỡi
trò chơi tình ái, đàn cầm,
cũng không như một đồng tiền cũ
đến tay nhà bác cổ mân mê
Cũng không như
sao tắt lịm trời
Thơ tôi
xé toang
đống năm tháng chất chồng nhau
Thơ tôi đến
nặng nề
thô tục,
gào kêu,
cũng tựa hôm nay đến với ra
những cống nước cầu cừ
người nô lệ La Mã xưa xây dựng.
Trong đống sách
là nấm mồ thơ phú
sắt thơ tôi bỗng ló mình ra.
Các cháu ơi,
tôn kính ta,
thì cũng chỉ sờ mó sắt thơ ta
như võ khí
đã cổ xưa
mà còn lợi hại
Tôi thì cái kiểu
dùng lời thơ mà gãi
chẳng phải nghề của tôi,
vành tai cô gái đồng trinh
qua món tóc xoăn
không thẹn đỏ
vì bị sờ tục tĩu
Tôi triển khai
đội ngũ những trang thơ
tôi đi duyệt
những dòng thơ bày thế trận.
chuẩn bị xong rồi!
những câu thơ nặng tựa chì
sẵn sàng đi
tử chiến
vĩnh viễn quang vinh
Những bài thơ,
đại bác xếp bên nhau
đang nhằm bắn
những đầu đề khoát đạt.
Những lời châm biếm thông minh,
là võ khí sở trường riêng,
chúng đứng đây kia
chuẩn bị sẵn sàng
vó ngựa ghìm cương
ngọn thương tua tủa,
những vần thơ nhọn hoắt mũi lê,
chúng lao lên
hò hét xuất quân.
Và, tất cả những đoàn quân
trang bị kỹ càng này,
đoàn quân đã hai mươi năm
liệng mình trong chiến thắng, -
không tiếc một trang nào
tôi hiến cả cho anh
người vô sản địa cầu ta.
Mọi kẻ thù
giai cấp công nhân
đối với tôi, cũng là kẻ tử thù.
Những năm nhọc nhằn,
những ngày đói khổ
giục ta đi
theo cờ đỏ dẫn đường.
Ta mở
sách Mác
quyển này quyển nọ
như khi ta
mở toang cửa sổ nhà ta.
Nhưng dù không đọc sách
con người ta cũng biết
phải đứng bên nào
sống thác
đấu tranh.
Đối chúng ta
biện chứng
không do Hê-ghen đem tới.
Mà nó ở trong sấm bão đấu tranh.
Nó xô xát vần thơ,
trong khi đó
dưới đạn ta
bọn tư sản
quất ngựa chạy cuồng
cũng như ta
quất ngựa chạy
khi xưa.
Khi thiên tài chết,
cô Vinh Quang đưa đám
goá bụa tủi hờn, -
cũng có câu thơ tôi gục ngã
vô danh
như người lính của ta,
một chiến sĩ
đi tấn công
gục ngã.
Tôi thì tôi chẳng thiết
những đồng hun hàng tấn
tôi cóc cần
đá bục tượng thơm danh!
Chia nhau vinh dự làm gì?
ta cả mà thôi:
tất cả chúng ta
chỉ cần
một đài kỷ niệm chung
là Chủ nghĩa Xã hội.
chính tay ta dựng.
Các cháu ơi,
hãy xem lại những nút phao nổi trên tự điển
nước sông Mê [7]
trôi
nhiều xác chữ
tựa như những chữ
“làm đĩ”
“vây hãm”
“ho lao”.
Các cháu ạ,
vì muốn cho các cháu vạm vỡ, dẻo dai
ta,
thi sĩ,
ngày đêm ta quyét
những mủ đờm phổi khạc
bằng lưỡi tranh áp phích gạn lì
Những năm tháng nối đuôi tôi
làm tôi giống như một con sò kỳ quặc
đuôi dài.
Hỡi đồng chí cuộc đời,
hãy đi nước đại, nhanh lên!
Những ngày kế hoặch năm năm
Nhanh hơn nữa
tới ngày kết quả!
Thơ tôi
chẳng kiếm được xu nào dành dụm
Người làm đồ gỗ
chưa bao giờ
trang trí cửa nhà tôi.
Thực ra,
ngoài chiếc áo sơ mi tươi tắn,
tôi chẳng cần gì
Trước
bộ kiểm tra Trung ương Đảng
những năm trong sáng tương lai,
vượt trên
lũ nhà thơ
bạc lận cờ gian
tôi sẽ giơ cao
tờ chứng minh thư Đảng
là toàn tập thơ bôn-sê-vích tôi làm

(1930)


*



Chu Ngọc
Quần chúng đã chán ghét lối “chặn họng” ấy rồi [8]


Sau khi Nhân văn số 2 ra rồi, dư luận trong quần chúng cho rằng chúng tôi trả lời bạn Nguyễn Chương và báo Nhân dân như thế nào là ôn hoà, phải chăng và tình hình có thể dịu đi để tiến tới hiểu nhau hơn.

Bởi vậy chúng tôi đã gác lại những bài của anh em văn nghệ sĩ, trí thức và những ý kiến phát biểu của bạn đọc về sự chỉ trích của bạn Nguyễn Chương và báo Nhân dân. Nhưng báo số 3 đang in thì lại thấy bạn Nguyễn Chương lên tiếng trên báo Nhân dân một lần nữa, tiếp tục chụp mũ chúng tôi thế này thế khác. Do đó chúng tôi bất đắc dĩ phải trở lại vấn đề.

Bài này của anh Chu Ngọc cũng như ý kiến của các bạn Trần Bái và Phùng Bảo Kim đều mới trả lời vào bài cũ của bạn Nguyễn Chương. Đối với bài mới của bạn Nguyễn Chương, nếu cần, chúng tôi sẽ trả lời trong số báo sau.

Nhân văn



Tôi không đi vào phân tích toàn bộ bài phê bình báo Nhân văn của ông Nguyễn Chương trên báo Nhân dân.

Tôi chỉ nói đến lối phê bình “chặn họng”, phá đoàn kết vì tính chất mệnh lệnh, uy hiếp tinh thần và khinh miệt quần chúng của nó.

Ông Nguyễn Chương kết luận phần nhận định báo Nhân văn rằng: “Bọn Mỹ, Diệm hiện đương ra sức vu cáo chế độ miền Bắc là không có tự do, dân chủ cho nên chưa thể tổng tuyển cử để thực hiện thống nhất nhà nước được.

Chúng ta không nên mắc vào âm mưu của chúng.”

Phải xem lại toàn bộ báo Nhân văn số 1 xem có bài nào, điểm nào chúng tôi “vu cáo” để “mắc vào âm mưu của địch”?

Phương pháp phê bình theo chủ nghĩa nghĩa Mác-Lênin là thực sự cầu thị. Phê phán phải dựa trên cơ sở thực tế, nghĩa là phải dẫn chứng. Nếu không chỉ chung chung, suy diễn. Và khi đã suy diễn tất nhiên phải tiến tới một quy kết hồ đồ.

Bài phê bình của ông Nguyễn Chương đã mắc vào sai lầm ấy.

Vì rằng Đảng và Chính phủ đương phát động rộng rãi phong trào phê bình trong nhân dân quần chúng để củng cố lại đường lối, chính sách cho phù hợp với nguyện vọng nhân dân. Công tác đó đã tiến hành ở các cơ quan, đoàn thể và các khu phố ở thủ đô cũng như nơi khác. Về ngành văn nghệ, báo Nhân văn có nêu lên một số hiện tượng sai lầm của lãnh đạo văn nghệ. Chứng người, chứng việc hiện còn đương sống với chúng ta.

Chúng tôi chỉ muốn thực hiện đúng phương châm trong việc phê bình của chúng ta là: Nói thẳng, nói thật, nói hết.

Báo Nhân dân là cơ quan của Đảng, ông Nguyễn Chương là một đảng viên, tất nhiên không lạ gì phương châm ấy.

Vậy khi nhân dân phát hiện một vấn đề nào, chúng tôi nghĩ cơ quan của Đảng cũng như các đồng chí đảng viên nên vui vẻ tiếp thu để nghiên cứu, sửa chữa. Sửa chữa để củng cố chế độ của chúng ta cho mỗi ngày một thêm tươi sáng.

Mà xây dựng chế độ, chúng tôi thiết nghĩ, chủ yếu là để cho nhân dân chúng ta sống một cuộc đời no, ấm về thể xác và cởi mở về tinh thần.

Vậy khi thấy một trở lực nào ngăn cản nguyện vọng ấy thì nhân dân đề đạt lên trên để yêu cầu sửa chữa, như thế có hại gì đến việc tiến hành củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam?

Nguyện vọng của chúng tôi là thế chứ chúng tôi không bao giờ có ý “muốn làm cho người ta hiểu lầm rằng toàn bộ sự lãnh đạo của Đảng và toàn bộ chính trị miền Bắc là độc đoán, độc tài, chà đạp văn nghệ sĩ, chà đạp con người, không có ‘nhân văn’”.

Sao chúng tôi lại bị vu như thế với cái kết luận “chúng ta không nên mắc vào âm mưu của địch”?

Với luận điệu chụp mũ này người ta có thể hiểu rằng, theo báo Nhân dân và ông Nguyễn Chương thì không nên phát hiện gì cả. Chỉ nên phổ biến rộng rãi cái tác phong tiêu cực này ở các khu phố: “thứ nhất ngồi lỳ, thứ nhì đồng ý”.

Nếu không, cứ nói thật lên thì lại “mắc vào âm mưu địch”.

Tuy vậy ông Nguyễn Chương cũng nên thông cảm cho quần chúng là quần chúng không đến nỗi lạc hậu, hèn kém tới mức ấy đâu.

Người nào cũng có tai, có mắt, có bộ óc, có trái tim, đi theo cách mạng, phục vụ cách mạng không kỳ gian khổ, nhưng cũng không để ai có quyền khinh miệt quần chúng.

Tinh thần cách mạng chân chính chống lại bất cứ cá nhân, hay bè phái nào hạn chế tự do tư tưởng của quần chúng.

Cho nên khi thấy một mặt Đảng kêu gọi “nói thẳng, nói thật, nói hết” mà mặt khác những đảng viên như ông Nguyễn Chương và báo Nhân dân lại đe doạ: Công khai đấu tranh chống những sai lầm khuyết điểm của ta là chống chế độ, chống Đảng, là mắc mưu địch v.v... thì còn ai hiểu được! Cái lối khoá miệng quần chúng ấy đã khá phổ biến. Và đã bị và đương bị phản đối.

Quần chúng của Đảng, nhân dân của chính thể này đã chịu sự giáo dục của Đảng, của chủ nghĩa Mác Lê-nin, phân biệt được thể nào là ta, thế nào là địch.

Suy diễn, nghi ngờ, gán ghép, khinh miệt quần chúng, đánh giá địch quá cao đã có nhiều hậu quả chua xót rồi. Quần chúng đã chán ghét đến cực độ luận điệu “chặn họng” cũ rích ấy rồi.

Báo Nhân văn không hề có tư tưởng bôi xấu chế độ. Vì một lẽ rất giản dị, là những người làm báo Nhân văn đều là con đẻ của chế độ xã hội miền Bắc. Họ với chế độ như thịt với da. Đời và tâm hồn họ gắn liền với sự sống còn của chế độ.

Nhờ được ánh sáng của Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô đã thấm vào người họ, họ lớn lên, mắt họ sáng ra, máu họ tươi thêm, mặt họ ngẩng lên, họ nhìn thấy trách nhiệm, thực sự thấy mình là chủ nhân của cuộc đời, họ thấy mình không phải là con rối.

Họ phải làm việc.

Và việc đầu tiên của họ là muốn đánh bật tận gốc những tàn tích phong kiến và thực dân trong hàng ngũ lãnh đạo văn nghệ nói riêng và hàng ngũ cách mạng nói chung.

Chúng tôi cố gắng đấu tranh trong tổ chức, song liên tục chúng tôi bị chế ngự, nguyện vọng của chúng tôi lên tới Trung ương Đảng đã bị thay thế bằng nguyện vọng của bè phái họ.

Chúng tôi nói lên sự thực, mục đích đề Trung ương Đảng nhận định lại vấn đề lãnh đạo văn nghệ.

Đó có phải là một hành động tội lỗi không?

Giải quyết được tình trạng bè phái lãnh đạo văn nghệ là góp được một phần khá lớn vào sự nghiệp củng cố miền Bắc, thống nhất nước nhà.

Chúng tôi đặt vấn đề như thế.

Đó là nguyện vọng của chúng tôi. Do những tấm lòng tha thiết ấy, chúng tôi nêu lên: “Báo Nhân văn đứng dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, theo chủ nghĩa Mác Lê-nin” là chúng tôi đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng, trong lúc đấu tranh nội bộ gay gắt này.

Ông Nguyễn Chương cho đó là chúng tôi “nêu lên như một cái chiêu bài”.

Với thái độ này, tôi thấy như ông Nguyễn Chương gạt quần chúng ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng trong khi quần chúng thiết tha lăn vào.

Thử xét lại xem qua thái độ đã toát ra từ bài phê bình, qua những nhận định và sự phê phán báo Nhân văn, ông Nguyễn Chương và báo Nhân dân đã giúp đỡ chúng tôi những gì để chúng tôi đấu tranh? Hay chỉ toàn thấy những giọng trịch thượng, hống hánh, chia rẽ, gây cho chúng tôi những cảm tưởng không tốt về một cán bộ tuyên huấn cao cấp và về vai trò của cơ quan ngôn luận Trung ương Đảng?


*


Nhân văn
Mấy lời chân tình gửi bạn đọc: Về dư luận xung quanh Nhân văn [9]

Báo Nhân văn ra đời, được các bạn khuyến khích, phê bình rất sôi nổi. Từ số 1 (ấn hành 2000 tờ) đến số 2 (ấn hành 6000 tờ), lần nào cũng chỉ trong một ngày là hết báo, điều đó chứng tỏ bạn đọc rất tha thiết đến việc mở rộng tự do dân chủ của chế độ và việc vận động đổi mới công tác văn nghệ, công tác trí thức.

Tuy nhiên, trong công việc xuất bản tờ báo này, chúng tôi còn mắc nhiều khuyết điểm mà hôm nay chúng tôi cần phải trình bày với các bạn và mong các bạn lượng thứ cho.

- Báo ra không đúng kỳ, không báo rõ ngày, khiến các bạn phải chờ đợi thắc mắc.

- Tổ chức trị sự (phát hành, thu tiền) rất luộm thuộm. Có nhiều bạn mua báo dài hạn đã không nhận được báo, hoặc nhận được chậm. Có nhiều bạn muốn mua báo dài hạn mà không biết gặp ai để ghi tên. Địa điểm bố trí báo chưa đều, nên có khu vực tập trung nhiều quá, có khu vực lại không có chỗ bán, khiến nhiều bạn tìm mua rất khó nhọc.

- Nội dung tờ báo, ngoài cuộc đấu tranh về văn nghệ, chưa đề cập đến nhiều vấn đề văn hoá, xã hội cụ thể đang nóng hổi trong tim, óc quần chúng như giáo dục, y tế, sinh hoạt nhân dân v.v...

Những thiếu sót đó là do chúng tôi vừa ít tiền vừa thiếu kinh nghiệm và trong khi gặp khó khăn về ấn loát, về mua giấy, về trụ sở, chúng tôi đã lúng túng trong phần trị sự cũng như phần biên tập; phần đông anh em lại ở trong biên chế chính quyền hay đoàn thể, làm báo Nhân văn có một tay trái.

Chúng tôi đang cố gắng sửa chữa những khuyết điểm, nhược điểm đó.

Tiện đây, chúng tôi đề nghị các bạn chú ý hai điều rất quan trọng chung quanh việc báo Nhân văn ra đời:

1. Ngay từ số 1, dư luận nhân dân, cán bộ và các báo rất sôi nổi về Nhân văn. Có nhiều người tán thành, nhiều người phản đối, thậm chí đi đến chỗ mạt sát khiêu khích báo Nhân văn và một số anh em cộng tác với tờ báo. Chúng tôi để ngoài tai những lời mạt sát, phỉ báng đó, kiên nhẫn tiếp tục nhiệm vụ và vẫn coi thái độ đối lập kia chỉ là thái độ hấp tấp, sai lầm của bạn với bạn mà thôi. Do quan niệm khác nhau về tự do dân chủ nên sinh ra mâu thuẫn; nhưng, tựu chung vẫn là người một nhà nên trước sau rồi cũng thống nhất. Mong bạn đọc sẽ đồng tình với chúng tôi và tránh mọi thái độ không lợi cho đoàn kết.

2. Nhưng bên cạnh ta, vẫn còn lẩn quất những tay sai của đế quốc Mỹ và bè lũ Ngô Đình Diệm muốn nhân lúc này, thò bàn tay bẩn thỉu vào chia rẽ hàng ngũ cách mạng. Chúng nhầm to. Báo Nhân văn cũng như các bạn, không mắc lừa chúng. Mọi âm mưu chia rẽ, phá hoại của chúng sẽ thất bại. Mong độc giả sẽ cùng với chúng tôi đề cao cảnh giác, chống mọi âm mưu xuyên tạc, ly gián của địch.

Ngoài ra cũng còn một số người lạc hậu mang nặng tàn tích đế quốc và phong kiến, tuy đứng trong hàng ngũ cách mạng, nhưng vì quyền lợi, địa vị cá nhân, nên có hành động hoặc lời nói vu cáo, đe doạ định bóp nghẹt dân chủ bằng những phương pháp khi lén lút, khi trắng trợn. Chúng tôi mong bạn đọc sẽ cùng với chúng tôi đấu tranh thẳng thắn với những phần tử xấu đó, để bảo vệ tư do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu và sáng tác, làm cho chế độ ta thêm tốt đẹp.

Nói tóm lại, báo Nhân văn bao giờ cũng đứng dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, kiên quyết đấu tranh cho thống nhất đất nước và dân chủ thực sự - một cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ - và kiên quyết đánh tan mọi âm mưu phá hoại của bọn tay sai Mỹ, Diệm, và cả của những phần tử xấu trong hàng ngũ ta.

Tờ báo này là của các bạn. Các bạn hãy tích cực ủng hộ cho nó sống mãi và càng ngày càng phát triển.

Nhân văn



*


Quảng cáo cho dầu cốt thần, dầu cù là, khuynh diệp hiệu Con Voi, 53 Hàng Gà, Hà NộI


*



Hà Bá
Chưa đẹp mắt [10] - Trang trí và Trật tự

Ấy là câu chuyện nghệ thuật và xử thế.

Hôm nọ có kỷ niệm nhà đại thi hào Nguyễn Du của dân tộc. Ý nghĩa của buổi lễ thực là cao đẹp và chứng tỏ chế độ ta quí trọng những thiên tài đã cống hiến tinh hoa cho nền văn hoá của dân tộc. Nhưng buổi lễ có hai điểm đáng trách.

Bài trí ở trên sân khấu, nhiều chậu cây đuợc đem lên và có nhiều hoa. Ý chừng là nghĩa trăm hoa đua nở chăng? Nhưng ai lại đi cài hoa giả! Một thứ hoa giấy nửa giống hoa hồng nửa như hoa thược dược được cài vào. Đinh lăng mà cũng có hoa! Cây ngâu, các thứ cây, cây nào cũng trổ hoa giả, giả một cách lộ liễu, trắng trợn. Bày la liệt ở sân khấu. Giữa là một cái đỉnh đồng to tròn, trên là mấy chữ cắt dán lùng bùng và ọp ẹp. Thiết nghĩ Bộ Văn hoá và Hội Văn nghệ thiếu gì các nhà trang trí lại đi tô điểm như thế! Bàn diễn giả có một lọ hoa “lay ơn” còn ngậm nụ, to quá, lấp cả ông diễn giả Trương Tửu làm cho công chúng mỏi cổ để nhìn ông mà chỉ thấy đôi kính lấp loáng. Chưa hết. Một số khán giả ngồi xem thiếu lịch sự. “Tác phong dân chủ” đưa chân và giầy dép lên ghế trước, thúc vào lưng người ngồi đằng trước, hãy còn nhiều. Hàng chục bà con lại ngồi ngả người ra như lúc mỏi mệt nhất ở nhà mình. Chắc họ nghĩ: cụ Nguyễn Du không có mặt ở đây nên chả cần. Đứng lên ngồi xuống tự nhiên như ở quán giải khát. Xình! Xình! Những tiếng động ngang bướng như lên giọng bất chấp: diễn giả nói thì kệ diễn giả! Thì ra bà con tự cho mình hoàn toàn tự do trong ngôn ngữ và cử chỉ mà không chú ý đến sự nghiêm chỉnh rất văn minh của những đồng chí nước bạn đến dự buổi lễ.


*


Y Du
Địa ngục miền Nam [11]

Quốc hồn quốc tuý

Ngày 26 tháng 10, Diệm sẽ tổ chức ở miền Nam lễ kỷ niệm tết Cộng hoà có ăn chơi, có đại biểu các nước, có duyệt binh đủ cả hải, lục, không quân. Nhưng ăn chơi thì ăn chơi lối Mỹ. Đại biểu thì đại biểu Mỹ, duyệt binh thì binh lối Mỹ... và hải, lục, không quân thì cũng của Mỹ nốt.

Như thế e rằng là không có tính chất dân tộc độc lập chăng? Vắt óc ra, Diệm chợt nhớ đến cái áo dài đen. Nó là “nghi thức cổ truyền thích hợp để tỏ lòng ngưỡng mộ và suy tôn các anh hùng cứu quốc!!!”

Các vị anh hùng cứu quốc nằm trong các lăng tẩm đền điện chỉ vào Diệm đồng thanh quát lớn:

"Thằng phản quốc đừng bán đứng tên tao!"

"... Mặc bộ quốc phục uy nghi người dân sẽ có dịp nhớ lại nguồn gốc của mình, tưởng niệm đến ông cha, nhớ ơn các vị anh hùng liệt sĩ, đã gây dựng nên giang sơn tươi đẹp ngày nay!!!"

Phạm Quỳnh nghe thấy hiện về bảo Ngô Đình Diệm:

"Ngài ăn nói quả có khéo hơn tôi thật!"

Đài Sài Gòn của Diệm còn triết lý:

“Âu phục tuy có gọn ghẽ, thuận tiện, nhưng chưa thể đánh đổ được bộ quần áo dài của ta... Vì với tinh thần yêu nước tha thiết, người Việt Nam lúc nào cũng tôn trọng những cái gì là Quốc hồn quốc tuý của mình, kể cả đồ trang phục. Tuy nó là hình thức bề ngoài nhưng rất quan hệ và ảnh hưởng đến việc duy trì nền văn minh dân tộc!!!”

Phường giá áo túi cơm bàn chuyện văn hoá dân tộc trên cái áo!

Áo dài nên màu gì?

“Màu lam tượng trưng sự vui mừng chế độ cộng hoà và hoan hô biện pháp”.

Cái màu lam bị buộc tội đồng loã với Diệm một cách oan uổng!

“Nhưng nếu không tiền may áo lam thì mặc áo dài đen cũng được.”

Đài Sài Gòn không phân tích về màu đen! Chính vì màu đen thường là mầu tượng trưng cho tang tóc, đen tối và buồn thảm...


*


Sĩ Ngọc
Bất mãn? [12]

Hiện nay đang có một dư luận không đúng về phong trào phê bình của báo Nhân văn cho rằng những người viết báo ấy là một nhóm bất mãn.

Nói chung một số người có thẩm quyền trong giới lãnh đạo đang cần tung ta một nhận định nhằm cô lập báo Nhân văn và những người cộng tác của báo ấy. Thậm chí cho phong trào phê bình của những người viết ở Nhân văn là phản ứng giai cấp (không nói rõ là giai cấp nào?).

Tôi là một người có cộng tác với Nhân văn vì cho là báo này trong một phạm vi rộng rãi, đã đề cập tới những vấn đề nóng hổi của xã hội, của văn nghệ, nhất là vấn đề phê bình lãnh đạo văn nghệ đã mở đầu sôi nổi. Phê bình để tiến tới xây dựng một chính sách đúng, đẩy mạnh phong trào văn nghệ như ý muốn chung của quần chúng và của Đảng.

Trong phong trào phê bình ấy tất nhiên không tránh được một vài lệch lạc do phẫn uất tích luỹ lâu ngày nổ bùng ra, nhưng theo tôi nếu không phê bình mạnh thì không thể làm cho lãnh đạo thấy vấn đề cho đúng tầm quan trọng của nó. Nếu phủ nhận sự cần thiết đó thì không thể hiểu tại sao chỉ sau khi có những bài phê bình ấy ông Hoài Thanh, ông Nguyễn Tuân, ông Nguyễn Đình Thi mới viết tự phê bình (tuy chưa đúng mức) đăng trên báo Văn nghệ? Đáng tiếc là một số người đang lầm lẫn việc bảo vệ uy tín của lãnh đạo với việc giữ thể diện cho một số cá nhân lãnh đạo.

Theo tôi nghĩ, trong tình hình hiện tại, muốn cho uy tín của lãnh đạo giữ được và tăng thêm thì lại càng phải tự phê bình thành khẩn. Không nên sợ mất sĩ diện khi cái sĩ diện ấy có hại cho Đảng, đi ngược lại với quyền lợi của quần chúng. Không nên (dù hữu ý hay vô tình cũng không nên) lẫn lộn uy tín của cá nhân lãnh đạo với uy tín của Đảng. Nếu uy tín chỉ xây dựng trên sự “không dám nghe” của mình và “không dám nói” của người khác thì cái uy tín cũng nên vứt bỏ đi.

Uy tín của Đảng, của người cách mạng là ở chỗ biết nghe và biết sửa.

Một số người không hiểu như thế nên cứ tìm cách lẩn trốn sự thực, sợ những lời phê bình mạnh, họ tìm cách bịt miệng một số người để cho những người này lại bịt miệng một số người khác nữa... Thực mà nói, nếu những người ở Nhân văn sai, tôi chắc quần chúng bao giờ cũng có đủ sáng suốt nhận định. Họ không dễ bị lừa đâu. Ai dối họ, ai đi ngược lại với quyền lợi của họ, họ đều biết cả!

Làm như thế một là khinh quần chúng không biết gì hoặc là sợ quần chúng sáng suốt nghe những lời nói đúng sự thật. Làm như thế là không tốt.

Nhưng nếu các bạn cứ thấy chúng tôi không bằng lòng cái này cái khác của thời đại mà muốn tìm một danh từ nào đề chỉ hiện tượng đó thì chúng tôi không e ngại tiếng “bất mãn” đến như nhiều người tưởng.

Bất mãn! Tại sao không bất mãn?

Ai thoả mãn trước những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất hiện nay? Ai thoả mãn với những sai lầm khác như những sai lầm trong chính sách văn nghệ và trí thức chẳng hạn?

Tôi chắc chắn rằng không phải chúng ta, những người đã tham gia cách mạng, sống chết với cách mạng, những con người của cách mạng. Chúng ta, những con người có nhiệt tâm với nhân dân với xã hội, những con người biết đau xót về những sai lầm tồn tại làm tổn hại đến việc xây dựng miền Bắc, đến công cuộc cách mạng, chúng ta không thể không bất mãn với những sai lầm ấy, với những con người làm ra những sai lầm ấy.

Chúng ta, những người làm văn nghệ phục vụ cho cách mạng, luôn luôn đòi hỏi sự tiến tới không ngừng của xã hội, chúng ta tất nhiên phải bất mãn với những lực lượng phản tiến bộ cản trở bước tiến của xã hội. Chúng ta, những người làm văn nghệ và văn hoá muốn cho chuyên môn của ngành mình phát triển để phục vụ cách mạng cho tốt, tất nhiên phải bất mãn với những cái sai lầm làm cho văn hoá văn nghệ đáng lẽ phải phát triển hơn nữa, thì bị kìm hãm. Bất mãn với những cái sai lầm là chính đáng. Chỉ có kẻ nào thoả mãn với cái sai kẻ ấy mới là kẻ có tội.

Nếu ai nói những người bất mãn ấy là phản ứng giai cấp thì hỏi giai cấp nào phản ứng trước những cái sai lầm có hại cho cách mạng? Thiệt thòi đến nông dân, đến công nhân, đến trí thức, đến cách mạng, ai thoả mãn?

Ai không phản ứng trước những sai lầm ảnh hưởng tai hại đến Cải cách Ruộng đất? Ai không phản ứng trước những sai lầm nghiêm trọng làm tổn thương cho miền Bắc chúng ta trong khi đang cần củng cố và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để mau tiến tới xã hội chủ nghĩa?

Nếu ai khuyên: Này thôi đừng nói nữa bọn Mỹ Diệm nó lợi dụng”. Tôi trả lời: Thằng Diệm nó vẫn chỉ có một luận điệu nói rằng ở miền Bắc không có tự do nên nó không hiệp thương. Thì những cái phê nình công khai trong nội bộ miền Bắc chỉ càng chứng tỏ rằng chúng ta đang thực hiện một cách đầy đủ quyền dân chủ của chúng ta. Ở miền Nam, bọn Mỹ, Diệm có dám cho nhân dân phê bình chính quyền của chúng không? Ở miền Nam, bọn Mỹ, Diệm có dám bảo đảm đầy đủ tự do dân chủ cho văn nghệ sĩ không?

Tại sao lại sợ thằng Diệm nó biết mình dân chủ? Có là ngây thơ mới nghe lời nói vô lý ấy.

Chỉ có chính quyền dân chủ nhân dân do dân làm chủ có Đảng lãnh đạo mới có những cuộc phê bình mà phong kiến, đế quốc, phát xít, đều sợ, đều cấm, đều đàn áp. Chỉ có những chính đảng thực sự làm cách mạng, mưu cầu lợi ích cho dân tộc, cho nhân dân, được quần chúng ủng hộ như Đảng Lao động Việt Nam mới dám tiến hành sự thực hiện quyền tự do dân chủ thực sự cho toàn thể chúng ta.

Ai sợ phê bình? Tôi xin nói thẳng là những ông Quan liêu, ông Địa vị, ông Sĩ diện. Đó là những đứa con của phong kiến, đế quốc. Cho nên chúng vẫn cứ dùng cái luận điệu đã kinh nghiệm từ thời thiếu dân chủ mà bảo là bất mãn, phản ứng giai cấp v.v... cho những ai dám phê bình chúng. Đảng và Chính phủ đang tiến hành những biện pháp để sửa chữa những sai lầm trong đó có biện pháp sửa chữa tác phong quan liêu, độc đoán, thiếu dân chủ để cho xã hội chúng ta thực sự là cách mạng.

Bất mãn là chưa thoả mãn với thực tế, tất nhiên không phải là muốn quyền lợi cá nhân chúng ta đi ngược lại quyền lợi của quần chúng nhân dân. Chúng ta bất mãn với những cái sai lầm, người sai lầm đã làm thiệt hại cho lợi ích của cách mạng.

Còn đối với một số người cho chúng tôi là bất mãn vì địa vị hay vì quyền lợi vật chất thì chúng tôi thấy không cần trả lời những con người thấp hèn ấy.


*


Hàn Phi Tử
Ngọc bích họ Hoà [13]

Nước Sở có người họ Hoà, được một hòn ngọc ở trong núi đem dâng Lệ Vương. Vua sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc nói “Đá, không phải ngọc”. Vua cho người họ Hoà là nói dối, sai chặt chân trái.

Đến khi vua Vũ Vương nối ngôi, người họ Hoà lại đem ngọc ấy dâng. Vua sai thợ ngọc xem, thợ ngọc nói: “Đá, không phải ngọc”. Vua lại sai cho họ Hoà là nói dối sai chặt nốt chân phải.

Đến khi vua Văn Vương lên ngôi, người họ Hoà ôm hòn ngọc khóc ở chân núi Sở Sơn suốt ba ngày ba đem, chảy máu mắt ra. Vua thấy thế, sai người đến hỏi. Người họ Hoà thưa: “Tôi khóc không phải là thương hai chân tôi bị chặt, chỉ thương về nỗi ngọc mà cho là đá, nói thật mà cho tôi là nói dối!”. Vua bèn sai người xem lại cho rõ kỹ, thì quả nhiên là ngọc thật, mới đặt tên là “Ngọc bích họ Hoà”.

(Cổ học tinh hoa)


*

Thông báo của Phan Khôi [14]

Tôi đi công tác Trung Quốc một thời gian chưa biết bao lâu. Về tờ báo Nhân văn tôi uỷ quyền chủ nhiệm cho ông Trần Duy, thư ký toà soạn, ông Trần Duy sẽ chịu trách nhiệm trong những ngày tôi đi vắng. Tuy vậy, tôi cũng vẫn liên đới chịu trách nhiệm.
Phan Khôi


*


Đính chính [15]

1. Trong bài thơ “Nói lớn”, trang 4, cuối cột 1:

Thơ tôi đến
trên đầu muôn thế kỷ
Vượt qua vai
các vị cầm quyền

Xin đọc là:

Thơ tôi đến
trên đỉnh muôn thế kỷ
Vượt qua đầu
các vị cầm quyền.

2. Trong bài "Mấy lời chân tình gửi bạn đọc" trang 5, đầu cột 2:

Chúng tôi để ngoài tai...

Xin đọc là: Chúng tôi không tán thành…


*


Tranh châm biếm của Y Du [16] vẽ Phạm Quỳnh (1937, bên trái) dẫn đầu một đoàn khăn đóng áo dài, khom lưng trước một quan Tây và Ngô Đình Diệm (1956, bên phải), dẫn đầu một đoàn khăn đóng áo dài, khom lưng trước một quan Mỹ, với dòng chú thích:

“Quốc hồn quốc tuý” của Ngô Đình Diệm hay là câu chuyện chiếc áo dài trên trường chính trị


*


Danh sách những người góp tiền ra báo [17]

Chu Ngọc (Ban sân khấu) 20.000 đ. Trần Quế (Bộ đội giải ngũ) 300.000 đ. Phan Vũ (Ban Sân khấu) 10.000 đ. Nguyễn Sáng (Xưởng hoạ) 50.000 đ. Dương Bích Liên (Xưởng hoạ) 10.000 đ. Lê Anh Tâm (Xưởng phim) 10.000 đ


*


Thông báo: Tại sao Nhân văn bán 300 đ? [18]

Sở dĩ báo Nhân văn bán cao hơn các báo khác là vì chúng tôi chỉ được CƠ QUAN MẬU DỊCH TRUNG ƯƠNG cung cấp giấy cho đủ để in 2000 số, trong khi chúng tôi in tới 6000 số 2 và 7000 số 3. Chúng tôi đã phải mua thêm giấy ngoài thị trường với giá đắt gấp đôi giá mậu dịch. Do đó giá báo lên cao.

Nếu rồi đây chúng tôi cũng được cung cấp giấy rẻ đầy đủ như các bạn đồng nghiệp thì giá báo sẽ hạ xuống.

N. V.


[1]Trang 3
[2]Trang 3
[3]Bài chiếm toàn bộ trang 4, kèm ký hoạ chân dung Maia, tác giả ký tắt không rõ tên
[4]Trong cuộc chiến đấu chống dịch hạch, phải hô hào nhân dân không uống nước lã. Mai-a vốn đã là người rất vệ sinh, càng ưa thích công việc ấy. Như trong vở Con rệp viết năm 1919, Mai-a mường tượng xã hội Xô-viết tương lai hệt như một buồng mổ, anh tiểu tư sản bị ướp trong một cái lồng kính của phòng thí nghiệm, coi như là một di vật kỷ niệm bệnh thổ tả (E.T.). (Các chú thích trong bản dịch này đều của nguyên bản trên báo Nhân văn.)
[5]Mitreika và Koudreika là hai thi sĩ tầm thường đương thời, tác giả viết vào đây, chỉ cốt là chơi chữ (E.T.)
[6]Essénine: nhà thơ tâm tình yếu đuối (T.D.)
[7]Nguyên văn là Léthé: bến lú, sông mê ở âm phủ (T.D.)
[8]Trang 5
[9]Trang 5
[10]Trang 5, dưới cùng, bên phải
[11]Trang 6, góc châm biếm, trên cùng, bên trái, kèm hai tranh minh hoạ
[12]Trang 6
[13]Mục "Ôn cũ biết mới", trong khung, trang 6, in chen vào giữa bài "Bất mãn" của Sỹ Ngọc.
[14]Trang 6, thông báo nhỏ, đóng khung, ở gần cuối trang
[15]Trang 6, gần cuối trang
[16]Trang 6, cuối trang
[17]Trang 6, góc gần cuối trang, bên phải
[18]Trang 6, góc cuối trang, bên phải


Nguồn: Nhân văn số 3, ngày 15.10.1956. Bản điện tử do talawas thực hiện.
Nguồn: Talawas