HỒ CHÍ MINH HUYỀN THOẠI VÀ MẶT NẠ

HỒ CHÍ MINH HUYỀN THOẠI VÀ MẶT NẠ

http://giahoithutrang.blogspot.com/2012/06/ho-chi-minh.html

Monday, 27 May 2013

NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO MÔNG CỔ

CHƯƠNG XI

NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC 

 PHẬT GIÁO MÔNG CỔ



I. LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO MÔNG CỔ


Mông Cổ là một quốc gia kế  thừa“Vương quốc những đồng cỏ” của Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan, 1162-1227). Ðộc lập năm 1911 và theo chế độ Cộng Sản vào năm 1924, có quan hệ mật thiết với Liên Xô (cũ). Từ năm 1989, tiến trình dân chủ hóa đã bắt đầu và đưa tới sự cải tổ sâu rộng về các mặt kinh tế và chính trị. Các ngành kinh tế chính: công, nông nghiệp. Tài nguyên khoáng sản có: than đá, than nâu, dầu mỏ, vàng, bạc, chì, thạch cao.... Ngành chăn nuôi: cừu, lừa, lạc đà. Các ngành công nghiệp có: khai thác than, chế biến thực phẩm, sản xuất len. Thu nhập bình quân đầu người: 803 đô la/năm.

Theo nhà nghiên cứu sử học người Anh Andrew Skilton[1], Phật giáo được truyền vào Mông Cổ từ Ấn Ðộ, Trung Á và Trung Hoa vào đầu thế kỷ thứ 4 trước Tây Lịch bằng con đường tơ lụa (Silk Road) qua các nhà buôn người Aán. Từ đó PG dần dà phát triển đến thế kỷ thứ 13 Tây lịch với nhiều đợt truyền giáo của Phật Giáo Tây Tạng và Phật Giáo Trung Hoa. Tuy nhiên, PG Tây Tạng chiếm ưu thế và ảnh hưởng mạnh mẽ vào đời sống của người dân Mông Cổ. Ðỉnh cao của sự ảnh hưởng này là Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 4 là người Mông Cổ (1588). Trước khi PG được truyền vào Mông Cổ, tôn giáo bản địa là Shamartistic, một tôn giáo chịu ảnh hưởng từ truyền thống tâm linh của người Ba Tư. 
 
 Thời kỳ hưng thịnh của Phật Giáo Mông Cổ:
PG Mông Cổ trải qua nhiều thời kỳ thăng trầm, trôi nổi theo vận nước, thời kỳ thứ nhất xảy ra vào thế kỷ thứ 13 theo sau các cuộc xâm lăng của Mông Cổ trên khắp Á Châu. Kết quả của sự mở rộng bờ cõi này đã mang về Mông Cổ các truyền thống văn hóa và tôn giáo từ ngoại quốc, trong số đó, Phật giáo Tây Tạng (Phái Thích Ca - Sakya Order) chiếm phần ưu thế, được người dân Mông Cổ ưa chuộng và ảnh hưởng mạnh mẽ vào đời sống của người dân. Trong số những Hoàng đế Mông Cổ thời bấy giờ có Kublai Khan (Hốt Tất Liệt, 1216-94) là cháu nội của Thành Cát Tư Hãn, là người kế thừa và hoàn thành việc chinh phục hoàn toàn Trung Hoa bằng cách lật đổ triều đại nhà Tống (1279) và lập nên triều Nguyên (Yuan, 1279-1368). Kublai Khan là người ngưỡng mộ và quy y theo Ðạo Phật, đặc biệt ông từng tham dự lễ điểm đạo quan trọng về pháp tu Mật tông Kalachakra[2] và ông là người có công lao trong việc khuyến khích và bảo trợ công việc phiên dịch Kinh điển sang tiếng Mông Cổ. 
 Thời kỳ Phật giáo hưng thạnh thứ hai bắt đầu từ triều đại của Hoàng đế Altan Khan (1507-83), khi Mông Cổ có cuộc tiếp xúc mới với Tây Tạng, chính vì thế mà phái Hoàng Giáo (Gelugpa)[3] của Tây Tạng được chính thức truyền vào Mông Cổ và phát triển rất nhanh trên đất nước này qua sự bảo trợ của hoàng đế Altan Khan , và từ đó trở đi, Hoàng Giáo phái (Gelugpa) đã thay thế vị trí của phái Thích Ca để lám công tác truyền giáo ở Mông Cổ. Trong thời điểm ấy, một sự kiện quan trọng xảy ra cho Phật giáo Tây Tạng là sau cuộc chinh phục hoàn toàn Tây Tạng vào 1614, để lấy lòng dân, triều đình Mông Cổ đã ban hành một pháp lệnh rằng Ðức Ðạt Lai Lạt Ma của phái Hoàng Giáo là vị “đế sư”, đứng đầu ở thủ đô Lhasa, có quyền quản lý thế quyền và giáo quyền ở Tây Tạng. 
Cả dân tộc Tây Tạng lẫn Mông Cổ đều tin tưởng rằng Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara), nên việc điều hành chính trị và tôn giáo ở Tây Tạng được người dân tin tưởng vào khả năng của vị tái sinh và được thừa nhận là Dalai Lama. 
Thời kỳ thứ ba, dưới triều đại nhà Thanh (1662-1911), là triều đại ủng hôï Phật giáo ở Trung quốc, khi họ xâm chiếm Nội Mông (Inner Mongolia) họ có những ưu đãi cho Phật giáo, nhiều tông phái của Phật giáo Trung Quốc cũng được truyền vào Mông Cổ. Từ năm 1622 đến năm 1749, có nhiều Kinh điển được dịch từ tiếng Trung Hoa sang tiếng Mông Cổ.

Thời kỳ suy đồi của PG Mông Cổ:
Thế kỷ 20, Mông Cổ chịu nhiều đau khổ vì chiến tranh, xung đột chính trị từ các cường quốc bên ngoài, sau Trung quốc (1912), Nhật Bản đánh chiếm vào Manchuria vào năm 1931, và sau thế chiến thứ 2 vào năm 1945, Hồng quân của Liên Xô bắt đầu cuộc giải phóng cho Mông Cổ. Và từ đó trở đi, với chính sách không khoan nhượng tôn giáo của chính quyền Xô Viết, có 20 ngàn tăng ni và cư sĩ Phật tử trí thức bị giết, 40 ngàn người khác bị tống giam, thanh thiếu niên dưới 18 tuổi không được xuất gia, hơn 800 tự viện bị phá hủy hoàn toàn trên khắp Mông Cổ.
Từ năm 1989 đến nay, quốc gia Mông Cổ trở nên độc lập, các rào cản về sinh hoạt tín ngưỡng được tháo bỏ, các hoạt động của Phật giáo đã từng bước trở lại bình thường, có hơn 160 ngôi Tu Viện được xây dựng hoặc mở cửa trở lại và rất nhiều người xuất gia tu học và làm công tác truyền giáo.

II. CÁC KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO TẠI MÔNG CỔ

1. ĐỀN NGŨ THÁP TỰ  HAY NGŨ TỰ ( Thành phố Hô Hòa Hạo Đặc-Nội Mông)
  ( Five Pagoda Temple, Inner Mongolia China -Wuta (Five-Pagoda) Temple )

Đền Ngũ Tháp  tự ở thành phố Hohhot ở Nội Mông. Chùa xây năm thứ 10  đời Thanh  ( 1731), thuộc phái Lat Ma. Ở Hohhot  có 50 chùa.


Five Pagodas Temple 
Cửa vào Ngũ tháp tự

Five Pagodas Temple
Từ Đăng tự tháp (慈灯寺塔) tại Hohhot được xây từ năm 1732, tức thời Ung Chính Đế nhà Thanh



Five Pagodas Temple


2. CHÙA ĐẠI CHIÊU ( Da Zhao Temple in Hohhot)
  
Chùa Đại Chiêu ở Hohhot, được xây dựng từ năm 1579.



Thành phố Hu-hơ-hớt, Thủ phủ Khu Tự trị Nội Mông Trung Quốc là một thành phố cổ tươi đẹp lấy dân tộc Mông Cổ làm chủ thể, nhiều dân tộc khác chung sống hòa thuận. Ở đây không những nổi tiếng vì có thảo nguyên mênh mông, phong cảnh tươi đẹp, còn có rất nhiều chùa chiền Phật giáo cổ, được tôn vinh là "Chiêu thành".
Chùa Chiêu, tức là chùa Phật giáo Tạng, trong đông đảo chùa chiền của khu vực thành phố Hu-hơ-hớt nổi tiếng nhất là chùa Đại Chiêu. Chùa Đại Chiêu nằm ở phía tây nam khu phố cổ thành phố Hu-hơ-hớt, là một ngôi chùa Phật giáo Tạng đầu tiên của khu vực Nội Mông, cũng gọi là chùa Lạt-ma, cách đây hơn bốn trăm năm trước, chùa này đã nổi tiếng gần xa.
Tập tin:Da Zhao Temple in Hohhot3.JPG




3. THÁP XÂY DỰNG THẾ KỶ 18
Gilded stupa and a prajnaparamita, Mongolian from the 18th century CE



4. CHÙA  LẠT MA TSET TSERLEG Ở MÔNG CỔ
Tsetserleg  Цэцэрлэг, garden) là thị trấn  của tỉnh  Arkhangai Aimag  ở  Mông Cổ , nằm đông bắc của núi  Khangai Mountains,  cách 360 miles (600 km) phía  tây nam của  Ulaanbaatar

File:Kloster zezerleg.JPG

5.  THÁP   Khitan ,ở thành phố  Bars-Hot (Mông Cổ )

File:Bars Hota Mongolia.jpg 

6. CHÙA XIRET PHÁI LATMA  (Xiret Lamasery)

 Xây năm 1585 ở cuối đường Shitou ở quân  Yuquan District, thành phố  Hohhot -Mông Cổ. Chùa này do Đức Đat Lai Lạt ma  thứ tư truyền dạy.

7. CHÙA TRẮNG (White Pagoda:)

Xây vào triều Liêu (  907-1125 ) của Khiết Đan, chùa Trắng có tháp cao 55,5m,  ở làng Baita, về phía đông  Hohhot.White Pagoda towers 55.5 meters high in Baita Village in the eastern suburbs of Hohhot City. Chùa làm bằng gạch và gỗ cao 7 tầng It is an octagonal, pavilion-style brick and wooden structure with seven stories. Chùa có nhiều hình Phật.



 8. WUDANG LAMASERY (Wudang Lamasery)

Chùa này nằm sâu trong thung lũng Wudang núi Yinshan về phía tây thị trấn Baotu. Đây là một chi nhánh của tự viện Ta- shilhunpo ở Tây Tạng. Xây vào triều Khang Hy nhà Thanh. Có2,538 gian, chia thành 6  đại sảnh, ba đại sảnh để  cư trú, 94 phòng cho các lạt ma. Có 1500 pho tượng bằng vàng bạc, đồng, gỗ..



9. CHÙA  LẠT MA MEIDAI (Meidai Lamasery)

Chùa ở thị trấn Baotu, do Altan Khan , là cháu đời 17 của Genhis Khan xây. Đây là nơi Altan Khan truyền bá Phật giáo Tây Tạng. Đây là một công trình to lớn, gồm đại sảnh Mahavira đại sảnh Glazed Hall,  chùa  Naiqiong , Tu viện  Lạt ma, và đại sảnh Taihou.




CÁC ĐỀ TÀI LIÊN HỆ


NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO TẠI  INDONESIA
hắng tích Phật Giáo tại Indonesia







Indonesia có lẽ là một trong các quốc gia có nhiều đảo nhất nhì thế giới (khoảng 13,000 đảo) ngoài 5 hòn đảo chính là Kalimantan, Sumatra, Irian Jaya, Sulawesi và Java. Jogyakata là một thành phố không lớn lắm nằm trên đảo Java và cách thủ đô Jarkata của Indonesia khoảng hơn 400km đường chim bay về hướng Ðông Nam.


Borobudur Temple trên đồi. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Có lẽ thế giới sẽ ít ai biết đến Jogyakata nếu không nhờ vào một di tích bảo tháp vĩ đại của Phật Giáo còn lưu lại dấu vết ở đây suốt từ thế kỷ 9 đến nay. Ðó chính là Borobudur Temple.
Từ Jogyakata chạy về hướng Bắc khoảng 1 tiếng rưỡi là du khách đã đến Borobudur Temple. Từ xa ngôi Temple này như mang dáng dấp một ngôi lâu đài lớn nằm trên một ngọn đồi cao. Tên “Borobudur” mang một ý nghĩa là ngôi Phật Tự trên đồi (người hướng dẫn địa phương cho tôi biết chữ “Boro” là chùa, Bud từ chữ Budda là Phật và “ur” có nghĩa trên cao, trên đồi). Tuy nhiên danh từ này cho đến nay vẫn còn là một điều tranh cãi chưa có kết luận. Có cái lạ là Borobudur Temple lại thuộc về nhánh Phật giáo Ðại thừa chứ không phải nhánh Tiểu thừa Phật giáo. Kiến trúc của nó cũng khá đặc biệt lạ lùng và tạo cho người xem nhiều suy nghĩ tìm hiểu các điểm sâu xa về giáo lý và triết lý Phật giáo. Nhìn qua nét kiến trúc của Borobudur, quả thực tôi không biết tại sao người ta lại gọi là Temple vì đây không phải là nơi người ta đến để cầu nguyện hoặc làm một nghi thức lễ Phật giáo nào. Nhưng càng ngắm nhìn kiến trúc Borobudur người thưởng ngoạn lại càng cảm thấy lạ, lại càng đắm chìm vào dòng suy tư tôn giáo, đời sống con người, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc.


Nét điêu khắc trên đá diễn tả sự lắng nghe lời người lớn tuổi. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Như trong bức họa đồ miêu tả, có người cho Borobudur Temple có dáng dấp như là Mạn-đà-la, một biểu đồ linh thiêng của vũ trụ trong triết lý Phật giáo. Stupa (bảo tháp) lớn nhất tại trung tâm Borobudur như là quả núi vũ trụ lớn nhất so với tất cả các bảo tháp của Phật giáo trên thế giới. Kiến trúc Borobudur có thể tóm gọn lại thành 3 phần: phần tầng 1 diễn tả về đời sống con người. Trong đó các bức điêu khắc ở tầng này dường như chủ ý muốn nói đến cái nhân cái quả của kiếp này kiếp sau. Thường thì có ẩn ý răn dạy con người. Thí dụ những người trẻ không chịu lắng nghe kinh nghiệm từ người lớn tuổi thì mai sau/kiếp sau họ có thể đón nhận những điều bực bội, lận đận đến với họ.


Nét điêu khắc diễn tả sự lận đận ở kiếp sau vì không nghe lời. (Hình: ATNT Tours & Travel)


Phần hai gồm các tầng từ tầng hai đến tầng bảy bao gồm những câu chuyện về Ðức Phật, từ những câu chuyện về đời sống của Thái tử Tất-Ðạt-a từ lúc sinh ra đến lúc đi tìm chân lý và giác ngộ dưới gốc Bồ Ðề, các câu chuyện các tiền kiếp xa xưa của Phật như mẩu chuyện tiền kiếp của Ngài là Voi và đã hy sinh thân xác của voi để cứu sống những người sắp chết đói. Mẩu chuyện con Sư tử, Nai, và Chim. Sư tử đói bụng vồ được nai thì mừng quá nhưng một chiếc răng Sư tử bị nhức nhối, đau quá nên không ăn thịt nai được. Chim (tiền kiếp của Phật) thấy thế bèn nói Sư tử há miệng và chim lấy chiếc răng đau ra. Sau đó chim chịu làm mồi cho Sư tử thay thế cho nai. Các bức họa điêu khắc miêu tả về các câu chuyện trên thật sống động cho người xem. Người ta ước lượng tổng số các bức điêu khắc có thể dài chừng 4km. Nếu bạn muốn xem từng bức điêu khắc (một bức khoảng 24cm), mỗi bức mất 1 giây đồng hồ thì bạn cần ít nhất 2 ngày thì mới xem hết được. Bạn có đủ can đảm không?


Nét điêu khắc diễn tả câu chuyện Chim, Sư tử và Nai. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Hơn thế nữa, phần hai này có tất cả 432 tượng Phật được tạc quanh bốn chiều Ðông Tây Nam Bắc, tượng trưng cho Phật ở khắp nơi. Thực ra thì các tượng Phật đều mang một ý nghĩa khác nhau. Nếu bạn thích thú về nghiên cứu triết lý cũng như giáo lý Phật giáo thì Borobudur thật là nơi lý tưởng cho bạn vui chơi cùng sách vở. Nếu triết lý Phật giáo cho bạn nhiều đau đầu thì Borobudur cũng rất thoáng rộng, vĩ đại và rất đẹp để bạn có thể ngắm nhìn một tuyệt tác của người xưa để lại cho nhân loại ngày nay.

Tượng thần Shiva Ấn Ðộ Giáo cũng là một tiền kiếp Ðức Phật. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Phần ba là phần trên cùng bao gồm các tầng 8 đến tầng 10 thì không còn là hình vuông nữa mà là hình tròn. Ðây là phần tinh túy thâm sâu nhất của Borobudur. Có 32 stupa trên vòng tròn thứ nhất, vòng tròn thứ hai có 24 stupa. Tất cả các stupa tầng 1, tầng 2 này gọi tên là Parinirwana và đều được đục lỗ trống chung quanh hình thoi. Riêng tầng 3 có 16 stupa nhưng lại được đục lỗ trống hình vuông và gọi tên là Nirwana. Bảo tháp stupa trên cùng, nằm ngay giữa trung tâm của là một bảo tháp theo mái vòm tròn lớn. Trên đầu mái vòm là một trụ vuông và trên đó là một trụ hình bát giác. Bỏ qua phần ý nghĩa của các stupa thì phải nói đây là phần kiến trúc rất đẹp.


Ba Stupas Parinirwana-Nirwana-Mahaparinirwana, biểu tượng vô tướng. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Borobudur Temple được xây dựng vào đầu thế kỷ thứ 9 nhưng Phật giáo chỉ ảnh hưởng ở đây khoảng hơn 1 thế kỷ thì ảnh hưởng Ấn Ðộ giáo trở lại. Sau đó Hindu lại phải nhường cho ảnh hưởng Hồi giáo chiếm trọn Borobudur cho đến bây giờ. Vì thế kiến trúc của Borobudur ít nhiều đều có ảnh hưởng từ ba tôn giáo trên.
Tôi đến thưởng ngoạn Borobudur dưới một cơn mưa tầm tã. Sáng nắng chiều mưa là chuyện bình thường vào Tháng Giêng tại đất nước Indonesia. Ngắm nhìn kiến trúc to lớn của Borobudur mà lòng thầm cám ơn ngọn núi lửa Merapi vì nhờ tro bụi của Merapi phủ kín nên Borobudur mới còn tồn tại cho đến khi Thomas Stamford Raffles, một người Anh đến phủi bụi cho temple ló mặt ra thế giới từ năm 1814. Chính phủ Indonesia và UNESCO đã hai lần trùng tu bức tranh Mandala bằng đá này, nhưng những trận động đất thường xảy ra tại đây liệu có phá hủy đi một tuyệt tác của nhân loại không?


Quang cảnh nhìn từ đỉnh Borobudur Temple. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Jogyakata không phải chỉ có Borobudur Temple mà còn có Prambannan, ngôi đền thờ của Ấn Ðộ giáo cũng vĩ đại không kém. Tôi chợt nhớ đến câu chuyện thần Shiva của Ấn Ðộ giáo cũng là một tiền kiếp của Ðức Phật và cũng đồng thời nhớ đến mẩu chuyện Ðức Phật cũng là một tiền kiếp của Thần Vishnu bên ngôi đền Hindu tại New Dehli. Ai đúng ai sai! Tôi cho rằng Jogyakata cũng không thua kém gì Angkok Wat của Campuchia.

No comments:

Post a Comment